Hội thảo về CNTT và tương lai của đất nước

20.04.2011

Trước tầm ảnh hưởng của CNTT đến nền kinh tế xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông và Hiệp hội phần mềm VN phối hợp tổ chức hội thảo nhằm xác định vị trí của CNTT trong sự phát triển chung của VN.

Sự kiện mang tên “CNTT và tương lai của đất nước” sẽ diễn ra tại Hà Nội ngày 23/4 với sự tham gia của lãnh đạo các Ban Đảng và Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, bộ ngành, lãnh đạo các hiệp hội và doanh nghiệp CNTT, đại diện của các trường Đại học, Viện nghiên cứu và các cơ quan truyền thông.

Các báo cáo thống kê cho thấy ngành CNTT nói chung và ngành công nghiệp phần mềm nói riêng ở Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng hàng năm gấp 3-4 lần mức tăng trưởng GDP hàng năm. Việc ứng dụng CNTT trong xã hội lan truyền với tốc độ chóng mặt cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với hơn 1/4 dân số Việt Nam sử dụng Internet, gần 1/2 số hộ gia đình có điện thoại cố định, trung bình mỗi người dân có hơn 1 điện thoại di động, tuyệt đại đa số cán bộ, công chức cấp trung ương và hơn 2/3 cán bộ, công chức cấp tỉnh có máy tính và đa số có kết nối Internet.

Tại cuộc họp “Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị và triển khai Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” vào tháng 12/2010, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: “CNTT không chỉ là ngành công nghiệp dịch vụ phát triển với tốc độ cao, đóng góp lớn vào nguồn thu cho đất nước mà còn là động lực phát triển hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay không một ngành nào, lĩnh vực nào phát triển mà không dựa vào sự hỗ trợ của CNTT-TT”.

Trên thế giới, vai trò của CNTT cũng được thể hiện qua lời phát biểu năm 1991 của Mahathir Mohamad, Thủ tướng Malaysia khi đó: “Không phải ngẫu nhiên ngày nay không nước phát triển giàu có nào lại nghèo về thông tin và cũng không có nước nào giàu về thông tin mà nghèo và kém phát triển cả”.

Tuyên bố chung cấp bộ trưởng các nước Liên minh châu Âu trong Chương trình nghị sự số tại cuộc họp cấp bộ trưởng ngày 19/4/2010 ở Tây Ban Nha nêu rõ CNTT đóng góp đến 50% sự tăng trưởng về năng suất lao động và là nguồn chủ yếu cho các sáng tạo và các cơ hội kinh doanh mới, đồng thời khẳng định: “Một chiến lược tăng trưởng bền vững, thông minh cần phải lôi cuốn tất cả mọi người để mọi công dân đều có cơ hội và kỹ năng tham gia đầy đủ vào một xã hội được thúc đẩy bởi Internet”.

Trong Thông điệp Liên bang ngày 25/1/2011, Tổng thống Mỹ Obama cũng nhấn mạnh CNTT là một trong ba ưu tiên hàng đầu sẽ giúp Mỹ năng động hóa nền kinh tế, khôi phục sự phát triển và duy trì vị trí hàng đầu thế giới toàn diện. Ông nêu rõ trong 5 năm tới phải làm cho 98% người dân Mỹ được sử dụng công nghệ không dây thế hệ mới. “Điều này không đơn thuần là nói về kết nối Internet tốc độ cao hơn hay ít cuộc gọi bị rớt hơn, mà là về việc kết nối mọi miền của nước Mỹ với kỷ nguyên số. Đó là về những người nông dân và doanh nghiệp nhỏ có thể bán hàng của mình trên toàn thế giới. Đó là về những người lính cứu hỏa có thể tải xuống thiết bị cầm tay bản thiết kế ngôi nhà đang cháy; là sinh viên có thể đi học với sách giáo khoa điện tử; hay người bệnh có thể nói chuyện qua video với bác sỹ của mình”, Obama tuyên bố.

Nhật đã thể hiện mức độ ưu tiên phát triển CNTT rất cao khi thành lập Cơ quan đầu não về Chiến lược CNTT do Thủ Tướng làm Tổng giám đốc (Kiyoshi Mori 2008) và ra chính sách u-Japan” (Ubiquitous Japan 2006) với tham vọng kết nối mọi người và mọi thứ ở mọi lúc mọi nơi bằng ứng dụng CNTT. Đây cũng là lĩnh vực được chính phủ Trung Quốc nhìn nhận như động lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế và chiến lược “đuổi kịp” các nước phát triển khác.

Nhiều chuyên gia công nghệ trong nước khẳng định thực tế phát triển CNTT trong suốt thập kỷ qua cho thấy đây là lĩnh vực mà Việt Nam có khả năng bắt kịp với các nước tiên tiến trong thời gian ngắn và thúc đẩy sự phát triển những ngành khác mạnh nhất.

Advertisements

Tầm nhìn làm nên sự vĩ đại của người lãnh đạo

08.04.2011

Năm 1982, khi tờ báo quốc gia USA Today lần đầu tiên xuất bản, người thành lập ra nó – Allen Neuharth đã bị các nhà phân tích Phố Wall và cả báo giới cười nhạo. Mục tiêu ban đầu của tờ báo là cung cấp một tờ báo quốc gia cho thị trường thông tin Hoa Kỳ, vào thời điểm đó hầu như chỉ có báo địa phương được phát hành rộng rãi.

In màu và chữ đậm, với nhiều biểu đồ, ảnh chụp lớn, tờ báo đối lập hoàn toàn với những tờ báo đen trắng cùng thời như The Wall Street Journal The New York Times. Tập trung vào mục tiêu quốc gia, USA Today đã trở thành một tờ báo nổi tiếng với một lượng độc giả khổng lồ, được phân phối trên toàn 50 bang trong nước và xếp thứ hai trên toàn thế giới trong bảng xếp hạng các trang báo viết bằng ngôn ngữ tiếng Anh.

Trước đó Allen đã xây dựng một chuỗi báo chí khu vực địa phương rất thành công, vậy tại sao ông lại quyết định tiếp tục cho xuất bản một tờ báo mới mà chỉ mới lướt qua người ta đã có thể thấy nó chứa đựng rất nhiều rủi ro? Ai sẽ cần tờ báo này?

Cho tới ngày nay, câu trả lời cho câu hỏi này đã quá rõ ràng, hàng triệu người đang đọc tờ báo và sẽ còn tiếp tục đọc nó, nhưng vào thời điểm năm 1982, khi tờ báo lần đầu tiên ra mắt công chúng, không phải ai cũng tìm ra câu trả lời.

Allen đã nhìn thấy tương lai cho chuỗi những tờ báo của gia đình ông mà những người khác không thể. Ông cũng đã nhìn thấy niềm khát khao tìm kiếm những tin tức về những vấn đề phức tạp của độc giả.

Dựa vào mạng lưới phân phát báo trong khu vực, Allen đã sáng tạo ra một quy trình giao phát báo rất công phu, bao gồm cả giai đoạn in báo và phân phát tờ báo quốc gia. Vậy điều gì đã cho phép Allen có thể nhìn thấy trước những khả năng phát triển thành công một tờ báo quốc gia? Đó là bởi vì ông đã sở hữu một tầm nhìn chiến lược, khả năng thấy trước chiều hướng phát triển của tương lai và quan trọng hơn cả là khả năng biến tầm nhìn này thành hiện thực.

Khả năng nhìn nhận tiềm năng tương lai của một tổ chức hay một công ty luôn luôn là một yếu tố cực kỳ quan trọng cho sự thành công của ban lãnh đạo. Thực tế thì, khi nhân vật nào đó được coi là “nhà lãnh đạo vĩ đại”, thì phản ứng tự động của con người là viện dẫn một thứ gì đó về khả năng chiến lược hay tầm nhìn của nhà lãnh đạo này.

Chúng ta cũng thường được nghe những câu chuyện về các CEO thành công trong lịch sử và kèm theo đó chắc chắn là khả năng chiến lược của họ. Sự thất bại của rất nhiều CEO phần đa đều bắt nguồn từ sự yếu kém hoặc thiếu tầm nhìn chiến lược trong phong cách lãnh đạo. Tuy vậy, một tầm nhìn đúng đắn và đúng nghĩa lại không hề dễ dàng. Tầm nhìn của Allen về một tờ báo quốc gia dường như rất hợp lý trong giai đoạn ngày nay, nhưng vào thời điểm năm 1982 thì nó dường như lại là…phi thực tế.

Rõ ràng là tầm nhìn vừa chịu tác động trực tiếp, vừa hình thành theo bối cảnh lịch sử. Tầm nhìn tách biệt bối cảnh lịch sử có thể tạo ra những kết quả đầy bất ngờ.

Sự bất hợp lý của giai đoạn những năm 1920 và sự bủng nổ của kỷ nguyên Internet vào những năm 1990 chính là những minh chứng cho thấy tầm nhìn đôi khi không hề dựa vào thực tế. Những nhà lãnh đạo lớn cần phải vừa biết nắm bắt những cơ hội phù hợp với bối cảnh hiện tại vừa luôn có kế hoạch cho tiềm năng trong tương lai. Mặc dù bối cảnh là rất quan trọng trong quá trình đặt nền móng vững chắc cho thành công, nhưng các nhà lãnh đạo không phải là những người thụ động theo bối cảnh.

Các nhà lãnh đạo như Allen có thể và đã tạo ra những thông số cho sự thành công thông qua một tầm nhìn đúng đắn cho tương lai. Và điều quan trọng nhất như đã đề cập đến ở phía trên, họ sở hữu khả năng nhìn trước khả năng có thể thực hiện được của tầm nhìn.

Các nền tảng của tầm nhìn lãnh đạo

Theodore Hesburgh, Hiệu trưởng trường Đại học Notre Dame đã nói rằng “Bản chất của lãnh đạo là bạn phải có một tầm nhìn. Đó phải là một tầm nhìn mà bạn mã hóa rõ ràng và mạnh mẽ trong từng thời điểm”.

Nhà lãnh đạo chia sẻ ước mơ và định hướng mà những người khác muốn chia sẻ và đi theo. Tầm nhìn lãnh đạo vượt xa bản yêu cầu nhiệm vụ công ty cần hoàn thành thường niên hay của cá nhân nhà lãnh đạo. Tầm nhìn lãnh đạo thấm vào nơi làm việc và được thể hiện trong hành động, niềm tin, giá trị và mục tiêu của nhà lãnh đạo.

Hầu hết các doanh nghiệp hay bất kỳ ngành kinh doanh nào đều bắt đầu bằng một tầm nhìn về thứ mà người sáng lập ra nó nhìn thấy rằng có thể tạo ra. Chia sẻ tầm nhìn này với những người khác theo cách khiến người khác phải hành động để thực hiện tầm nhìn chính là bí quyết cho một tầm nhìn lãnh đạo thành công, một nhà lãnh đạo thành công bởi như đã để cập ở trên, hầu như tại thời điểm nhìn thấy tầm nhìn, tầm nhìn đó rất dễ bị coi là một điều ngớ ngẩn.

Dưới đây là một số những nền tảng cần thiết để khích lệ và thu hút người khác đi theo tầm nhìn mà nhà lãnh đạo đã nhìn thấy trước. Đó là:

– Đặt ra mục tiêu và định hướng tổ chức rõ ràng.

– Truyền cảm hứng cho sự trung thành và quan tâm thông qua kêu gọi sự tham gia của tất cả mọi người.

– Thể hiện và phản ảnh những mặt mạnh, văn hóa, giá trị, niềm tin và định hướng riêng biệt của công ty.

– Làm sao để cấp dưới luôn thấy rằng họ là một phần của thứ gì đó lớn hơn bản thân họ. Phải biết thách thức cấp dưới: Đôi khi hãy cho họ thử sức với những việc vượt quá tầm tay của họ.

 


30 ngày Marketing Online

19.03.2011


Trong cuốn Relationship Marketing on the Internet (Marketing trên cơ sở tạo lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng qua mạng) của Adams Media, Roger Parker có nói “thông tin hình thành nên trái tim và linh hồn của trang web và tạo nên thành công cho marketing trực tuyến.

Để thành công, bạn phải liên tục cung cấp các thông tin có ý nghĩa nhằm biến khách hàng tiềm năng trở thành khách hàng thực sự, khách hàng thực sự trở thành khách hàng nhiều lần và khách hàng nhiều lần trở thành các vị đại sứ,…”.

Bất cứ khi nào có điều gì quan trọng liên quan tới truyền thông xảy ra trong cuộc sống của chúng ta, người ta lại sử dụng marketing. Hãy hỏi Johann Gutenberg, người phát minh ra báo in và máy chữ. Hãy hỏi Samuel Morse, nhà phát minh ra điện tín sử dụng mã moóc. Hãy hỏi Bill Gates. Trên thực tế, Bill Gates là người duy nhất còn sống để các bạn có thể hỏi nhưng chắc hẳn các bạn đều hiểu ở đây tôi muốn nói gì.

Ngay khi người ta viết hay đọc bất kỳ thông tin nào trên internet, thông tin đó sẽ có khả năng thay đổi cao. Đây được gọi là giai đoạn phát triển trong truyền thông qua mạng. Cho tới khi thay đổi đó đạt đến tuổi chín muồi, điều có lẽ không thể xảy ra thì những người làm kinh doanh sẽ liên tục phải đối mặt với thay đổi. Các nhà marketing du kích dễ thích nghi với thay đổi và trưởng thành cùng với nó. Nếu cũng là một người làm kinh doanh, đây chính là cơ hội cho bạn. Ngày hôm nay và hôm sau nữa, chúng ta sẽ tìm hiểu những nội dung cơ bản trong marketing trực tuyến và tôi sẽ cung cấp cho bạn một số vũ khí để đối phó với một môi trường đang thay đổi ngày càng nhanh chóng và liên tục. Khi bạn nhận ra điều đó, vẫn có những nội dung liên quan tới marketing trực tuyến đòi hỏi bạn phải có tư duy sáng tạo.

Trước nguy cơ có vẻ như là kỷ lục sáng tạo bị phá vỡ thì việc xác định mục tiêu và lập kế hoạch trong marketing du kích cũng quan trọng như đối với các hình thức marketing khác. Bạn muốn có một trang web, nhưng bạn sẽ làm gì với nó? Bạn có email. Nhưng bạn có giao tiếp hiệu quả và đúng đối tượng không? Đây là những thứ cần có trong kế hoạch marketing và là chìa khóa dẫn tới thành công. Hãy đảm bảo là bạn không cố gắng cho quá nhiều thông tin marketing trực tuyến vì nó đòi hỏi bạn phải có nguồn tài nguyên nhất định để thực hiện và duy trì. Bạn chỉ nên thực hiện cái gì phù hợp với bạn, với doanh nghiệp và nguồn lực của bạn. Chiến lược kinh doanh trên internet nên là sự mở rộng của chiến lược marketing đã và đang tồn tại của công ty và kết hợp hài hòa với marketing ngoại tuyến.

Marketing trực tuyến không chỉ là trang web và thư điện tử. Hãy chọn ra cái phù hợp với doanh nghiệp của bạn, với việc marketing sản phẩm, dịch vụ và cái thị trường mục tiêu của bạn cần sẽ quyết định kế hoạch hành động của bạn.

Nên sử dụng công nghệ trong marketing du kích. Chúng ta chưa bao giờ ở thời điểm như hiện nay trong việc sử dụng công nghệ trong marketing.

Trước khi ôn lại các vũ khí marketing trực tuyến và các nhân tố khác nhau, chúng ta hãy xem xét nền tảng dưới đây của marketing trực tuyến:

Lưu chuyển: Tên của mưu đồ trong marketing trực tuyến nhằm thu hút khách tới thăm trang web của bạn. Điều này cũng giống với việc thu hút khách hàng tới thăm công ty hay gọi điện thoại cho bạn, giống với việc đặt hẹn thăm các khách hàng và khách hàng tiềm năng trong bán hàng trực tuyến. Marketing trực tuyến và ngoại tuyến truyền thống thực hiện chức năng này.

Giá trị: Hãy tạm quên việc marketing trực tiếp sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Sự có mặt của bạn trên mạng và các nỗ lực marketing khác phải thu hút được khách hàng và khuyến khích họ quay trở lại. Giá trị trên mạng thường dựa trên cơ sở thông tin.

* Nguồn lực: Mục đích của việc sử dụng mạng trực tuyến chính là trở thành nguồn liên lạc cho khách hàng tiềm năng/khách hàng của bạn. Trở thành nguồn đó là mục tiêu trong việc tạo dựng mối quan hệ, sự trung thành và marketing. Tạo nên nhóm ủng hộ là một hoạt động marketing có ích. Người ta đi theo và mua từ các nguồn liên lạc.

* Thông tin: Bạn muốn trở thành nguồn thông tin được ưa thích. Bạn muốn có trang web được nhiều người ghé thăm và cung cấp cho họ thông tin giá trị. Cung cấp thông tin cho các khách hàng và khách hàng mục tiêu giúp bạn và doanh nghiệp của bạn tồn tại trong tâm trí của khách hàng.

* AIDA: Bây giờ là thời điểm có nhiều thông điệp marketing hơn bao giờ hết. Cũng giống như quảng cáo và thư in, công việc của bạn vẫn là thu hút sự chú ý, dành được sự quan tâm và tạo nên mong muốn dẫn tới hành động (AIDA).

Công nghệ trong marketing bắt đầu với hai vũ khí cơ bản đó là thư điện tử và trang web. Nên coi cả hai là marketing trên cơ sở quá trình, không phải là các vũ khí trên cơ sở sự kiện. Ngày hôm nay, chúng ta sẽ bắt đầu với trang web của bạn. Ngày hôm sau, chúng ta sẽ xem xét marketing qua thư điện tử.

Trang web

Đây sẽ là bản tóm tắt sáng tạo cho trang web của bạn. Để tìm hiểu sâu hơn về marketing trực tuyến, tham khảo Marketing trực tuyến sáng tạo của Jay Levinson’s (Houghton Mifflin) và marketing trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng (Adams Media).
Trang web chính là một địa chỉ. Nó là nền tảng tìm kiếm. Trước hết, bạn muốn người ta tìm nhà bạn. Sau đó, bạn muốn chào đón họ và thoải mái ngồi, tán chuyện với bạn. Các bạn muốn biết về nhau. Bạn muốn biết về nhau tới thời điểm muốn biết về nhau nhiều hơn nữa. Khi điều này diễn ra, bạn muốn dành được sự tin tưởng lẫn nhau để trở thành đối tác của nhau trong marketing, bán hàng và kinh doanh nói chung. Trang web có thể làm tất cả những điều này.
Trang web có thể thu thập tên của mọi người nhằm xây dựng mối quan hệ tiềm năng. Hãy lưu ý, tất cả những mối liên hệ này có hiệu quả hơn và mang tính cá nhân hơn nhiều so với cuốn sách giới thiệu. Trang web là công cụ để giao tiếp với khách hàng và/hoặc khách hàng tiềm năng của bạn. Bạn muốn cung cấp đầy đủ thông tin và giá trị để các khách hàng tiềm năng có thể để lại tên của họ (tạo điều kiện để bạn tiếp tục liên hệ với họ sau này hoặc quay trở lại lần sau). Cuối cùng thì, bán được hàng mới là mục đích của bạn.

Trang web là một vũ khí marketing khác được sử dụng để tạo nên mối quan hệ giữa bạn với các khách hàng, khách hàng tiềm năng và giữ khách hàng ở lại với bạn mãi mãi. Trang web định hướng marketing có thể xây dựng mối quan hệ và tạo lập sự trung thành. Hiểu được thị trường mục tiêu của bạn cần thông tin gì có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc quyết định nội dung trang web của bạn.

Điều cơ bản là, cần coi trang web của bạn là công cụ giao tiếp hiệu quả và tiết kiệm.

Giao tiếp hiệu quả hơn

Các trang web cá nhân cho phép bạn truyền tải nhiều thông tin hơn marketing truyền thống trên báo với chi phí ít hơn nhiều. Giao tiếp này mang tính tương tác, giống với việc gọi điện thoại bán hàng trực tiếp và điện thoại là vũ khí marketing tương tác. Sự tương tác khởi đầu và phát triển thêm mối quan hệ đồng thời thuyết phục các khách hàng tiềm năng trở thành khách mua hàng. Bất kỳ thứ gì bạn làm trên trang web để đẩy mạnh việc tương tác sẽ gia tăng hiệu quả của nó. Giữ cho mối quan hệ này tươi mới và giá trị sẽ làm cho khách hàng và khách hàng tiềm năng quay trở lại thăm trang web của bạn.

Các công cụ tìm kiếm

Các công cụ tìm kiếm là một trong những nguồn chính của trang web nhằm mục đích định hướng cho các khách hàng mục tiêu và tiềm năng tới thăm trang web của bạn. Để được đăng trên các công cụ tìm kiếm không phải là việc khó. Nhưng, để được đăng ở vị trí cao trong số những trang này có thể là một thách thức. Nếu như công cụ tìm kiếm cho ra 1.121.873 kết quả đối với một từ khóa thì người tìm thông tin sẽ khó lòng tìm kiếm quá 20 hoặc 40 trang. Nếu như trang web của bạn xếp thứ 86.416 thì rất có thể trình duyệt sẽ bỏ qua trang của bạn.

Hoạt động marketing được xem ở đây sẽ đưa trang của bạn lên công cụ tìm kiếm và đăng ký trang web của bạn với công cụ tìm kiếm. Để được đăng không nhất thiết là bạn sẽ đứng ở vị trí cao đối với các thuật ngữ tìm kiếm liên quan tới công việc của bạn. Để được đăng đơn thuần không có nghĩa là công cụ tìm kiếm biết rằng trang web của bạn tồn tại.

Có rất nhiều chiến lược và chiến thuật xếp trang web của bạn cao hơn trong các công cụ tìm kiếm nhưng chúng vượt qua khuôn khổ của cuốn sách này. Hành động quản lý các từ khóa và đuôi trên trang web của bạn gọi là tổ chức công cụ tìm kiếm. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm làm tăng khả năng trang web của bạn xuất hiện trong một vài trang danh sách tìm thấy đầu tiên. Sử dụng đúng cách sẽ đem lại lợi ích cho bạn. Sử dụng sai sẽ làm cho các con số tích cực biến mất.

Công cụ tìm kiếm nhấp chuột trả tiền

Các công cụ tìm kiếm trên cơ sở nhấp chuột trả tiền để được xếp thứ hạng nhất định trên các công cụ tìm kiếm. Đây là cách rất hiệu quả để thu hút khách hàng mục tiêu truy cập trang web của bạn mà không tốn nhiều chi phí. Trang web nhấp chuột phổ biến nhất là http://www.overture.com.

Các công cụ tìm kiếm này kết nối bạn với các khách hàng, những người tìm kiếm xem bạn đang bán gì. Các khách hàng và khách hàng mục tiêu thăm trang web của bạn thông qua các công cụ tìm kiếm là những khách hàng cực kỳ tiềm năng và thường có động cơ mua hàng. Đây chính là mục đích cuối cùng của marketing.

Với công cụ tìm kiếm trả tiền theo nhấp chuột, bạn chỉ trả tiền mỗi khi người tìm kiếm nhấp chuột vào danh sách và kết nối tới trang web của bạn. Người ta còn gọi những cái nhấp chuột này là click-through. Bạn không cần phải trả tiền để đưa trang web của bạn vào danh sách. Bạn sẽ đưa lên danh sách trang web của bạn bằng việc lựa chọn những từ khóa đề cập tới sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Với mỗi từ, bạn quyết định sẽ trả bao nhiêu tiền. Càng trả tiền cao bao nhiêu, bạn càng có khả năng xuất hiện trên các kết quả nghiên cứu cao bấy nhiêu. Càng trả tiền cao bao nhiêu, bạn càng chi nhiều tiền vào mỗi nút nhấp chuột tới trang web của bạn. Các công cụ tìm kiếm theo nhấp chuột có thể là một vũ khí marketing kiểu lase. Chuyển các cú nhấp chuột thành khách hàng mục tiêu chính là mục đích chính. Cần theo dõi sát sao việc này để chi phí trả cho các cú nhấp chuột không vượt quá lợi nhuận của việc bạn chuyển đổi.

Liên kết tương hỗ

Các liên kết tương hỗ là cách khác rất thành công để thu hút khách hàng tới trang web của bạn.

Liên kết tương hỗ chính là liên kết với những trang web khác, thường liên quan tới doanh nghiệp hay tổ chức của bạn. Khái niệm này có nghĩa là bạn đặt liên kết tới một trang nhất định trên trang web của bạn và ngược lại.

Phương pháp thu hút khách hàng này rất quan trọng và nó là một vũ khí marketing khác không tốn chi phí. Mấu chốt ở đây là liên hệ với đúng doanh nghiệp hay tổ chức và đưa ra dạng liên kết phù hợp. Bạn hãy dành thời gian tìm ra các công ty có liên quan tới bạn thông qua việc nghiên cứu các công cụ tìm kiếm. Hãy gửi một bức thư đơn giản nói rõ mục đích và ý định, bạn sẽ nhận được phản hồi có tính tích cực.

Các công cụ nghiên cứu lớn hiện đang sử dụng những liên kết tới trang web làm nhân tố quyết định việc xếp thứ hạng các trang web. Các công cụ tìm kiếm mặc định rằng càng có nhiều liên kết tới một trang web thì trang đó hẳn sẽ có giá trị nhiều hơn đối với những người tìm kiếm thông tin.

Tìm ra doanh nghiệp hay tổ chức lý tưởng để đặt liên kết tới là một ví dụ khác của marketing hỗn hợp. Kết hợp các vũ khí marketing trực tuyến và ngoại tuyến sẽ gia tăng tính tiết kiệm và hiệu quả của marketing du kích – một sự kết hợp lý tưởng khó lòng phá vỡ.

Các cân nhắc khác

Trang web không chỉ là nơi đặt cuốn sách giới thiệu của bạn dưới dạng điện tử. Nó không chỉ là một phương tiện quảng cáo. Các trang web có nhiều điểm chung với điện thoại hơn là với cuốn sách giới thiệu. Bạn hãy tìm ra càng nhiều mối liên hệ càng tốt.

Marketing trực tuyến cần gắn với tất cả các hoạt động marketing khác. Trang web của bạn cần gắn với các nỗ lực marketing ngoại tuyến và mang tính truyền thống hơn của doanh nghiệp của bạn. Thu hút các khách hàng đến với trang web của bạn sẽ thành công nhất khi bạn kết hợp với marketing trực tuyến và marketing ngoại tuyến truyền thống.

Trang web của bạn nên trở thành nguồn thông tin cho khách hàng và khách hàng tiềm năng của bạn. Trở thành một nguồn thông tin tin cậy, có chất lượng cao rất có ích cho bạn, doanh nghiệp của bạn và vị trí của bạn trên thị trường.

Theo sát những thay đổi nhanh chóng của marketing trên mạng đòi hỏi rất nhiều thời gian – nhiều ngang bằng với một công việc toàn thời gian. Các nhà marketing du kích không có nhiều nhân viên để đảm nhiệm những công việc như vậy. Nếu như họ không thực hiện công việc marketing trên internet, họ thường không làm được tốt nhất. Các nhà marketing du kích làm những gì họ làm được tốt nhất và uỷ thác công việc hay thuê người ngoài làm nếu họ làm tốt hơn. Hãy tìm một chuyên gia để giữ cho trang web của bạn luôn mới mẻ và cập nhật. Tập trung các nỗ lực vào việc tìm ra bạn làm tốt nhất ở điểm nào và bạn sẽ được đeo chiếc huy hiệu marketing đầy tự hào.

Tóm tắt ngày thứ 23

* Xác định các mục tiêu và lập kế hoạch marketing trên mạng cũng quan trọng như với tất cả các hoạt động marketing khác.

* Marketing trên mạng, mặc dù không tốn kém, nhưng vẫn đòi hỏi nguồn nhân lực để thực hiện và duy trì.

* Chiến lược kinh doanh qua mạng của bạn nên mở rộng cùng với chiến lược marketing khác đang tồn tại và kết hợp với marketing trực tuyến.

* Marketing trực tuyến có ích hơn một trang web và thư trực tuyến.

* Hiểu được thị trường mục tiêu của bạn muốn hay cần thông tin nào rất quan trọng trong việc quyết định nội dung trang web của bạn.

* Xuất hiện trên các công cụ tìm kiếm vẫn là một trong những cách tốt nhất để thu hút các khách hàng quan tâm và có định hướng tới trang web của bạn.

* Chính sách trả theo nhấp chuột trả tiền cho việc xếp hạng nhất định trên các công cụ tìm kiếm.

* Các liên kết với doanh nghiệp và tổ chức khác là một cách khác rất thành công để thu hút khách hàng đến với trang web của bạn.

* Trang web là một phương tiện quảng cáo có nhiều điểm chung với chiếc điện thoại hơn là với một cuốn sách. Tương hỗ chính là mấu chốt cho sự thành công của trang web.

* Marketing trực tuyến cần gắn với tất cả các hoạt động marketing khác.

* Trở thành nguồn đáng tin cậy về thông tin chất lượng cao có giá trị to lớn đối với bạn, doanh nghiệp của bạn và vị trí của bạn trên thị trường.

Các bước hành động

1. Thăm trang web của đối thủ cạnh tranh của bạn. Bạn thích gì và không thích gì từ quan điểm của một khách hàng?

2. Thu hút khách hàng đóng góp ý kiến cho trang web của bạn. Làm thế nào để bạn làm cho nó thú vị hơn, có giá trị hơn và hữu dụng hơn?

3. Marketing ngoại tuyến nào có giá trị trong việc thu hút khách hàng?

4. Chiếc cần câu trực tuyến/của trang web của bạn là gì?

5. Trang web của bạn có mang tính tương tác hay không?

6. Trang web của bạn cung cấp giá trị gì?

7. Bạn có tuân theo nguyên tắc AIDA không?

8. Liệu có chỗ cho khách tới thăm trang web của bạn đăng ký để nhận thông tin miễn phí từ trang web của bạn chưa?

9. Bạn có cách nào nắm giữ địa chỉ thư điện tử của các khách hàng đăng ký nhận thông tin của bạn chưa?

10. Bạn chọn từ khóa mấu chốt nào để thu hút khách tới trang web của bạn thông qua công cụ tìm kiếm?

11. Đánh các từ khóa liên quan tới loại hình kinh doanh của bạn và xem các đối thủ cạnh tranh xếp hạng như thế nào so với bạn và họ đang làm những gì trên trang web của họ

12. Sử dụng công cụ tìm kiếm nhấp chuột trả tiền (chẳng hạn như http://www.overture.com) và xem những chi phí nào gắn với các cú nhấp chuột. Bạn cũng cần xem có thông tin mang tính định lượng nào đối với từ khóa hay không.

13. Cân nhắc lại các từ khóa và xem điểm hòa vốn của bạn là bao nhiêu khi sử dụng vũ khí marketing này.

14. Các doanh nghiệp nào phù hợp với bạn để lập liên kết tới?

15. Các khách hàng của bạn muốn gì từ những liên kết trên trang web của bạn?

16. Các liên kết nào có trên trang web của các đối thủ cạnh tranh của bạn?


7 điều các CIO nên biết về telecommuting

25.01.2011

Làm việc từ xa hay Telecommuting mang đến cho các nhân viên sự linh hoạt và khoảng yên lặng cần thiết để tối ưu hóa năng suất lao động của họ. Cộng thêm vào đó, loại hình lao động này còn cho phép có thể tiết kiệm được các chi phí  khác. Đối với các chuyên gia CNTT thì telecommuting là một cách sống và làm việc hữu hiệu nhất.

 

Mặc dù vậy, cách làm việc tại nhà không phải lúc nào cũng dễ dàng cho các nhân viên. Với telecommuting, những hỗ trợ để thực hiện cho cách làm việc này phải thỏa mãn một số vấn đề, đầu tiên đó là các nhân viên cần phải tự phải có động cơ, tiếp đó là cần sự hỗ trợ mạnh của công nghệ (chẳng hạn như kết nối Internet tốc độ cao và VPN), xác định rõ ràng công việc có thể được thực hiện từ xa. Bên cạnh đó cũng cần phải bảo đảm cho các nhân viên làm việc từ xa của họ cảm thấy thích thú như một phần của các nhóm nhân viên làm việc tại văn phòng, kết hợp với những người làm ở xa vào các luồng công việc và tính toán năng xuất lao động dựa trên kết quả thay cho những dấu hiệu ảo.

 

Đôi khi các thành phần ban quản lý CNTT không hiểu hết được những vấn đề chính có thể ảnh hưởng đến năng suất và tinh thần làm việc của các nhóm. Họ có thể tạo ra các lỗi làm cho người làm của họ cảm thấy buồn phiền và gây kém năng suất hay tốn nhiều chi phí mặc dù đã dốc toàn tâm sức vào công việc chung của công ty. Nếu muốn triển khai được cách làm việc từ xa, bạn phải có một đội các chuyên gia về công nghệ độc lập để có thể tự thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả; nếu không bạn sẽ tạo ra khoảng cách, mối bất đồng, sự ngờ vực và sự lộn xộn trong luồng công việc.

 

Bạn có cách để không phải lặp lại những lỗi của người khác. Trong bài báo này, quản trị mạng chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số vấn đề mà những nhân viên CNTT làm việc từ xa chia sẻ về những ưu điểm của telecommuting mang lại cho doanh nghiệp, bên cạnh đó là các quá trình giúp các nhân viên làm việc từ xa tương tác với các thành viên của nhóm khác, và một số vấn đề cần tránh. Đây là những gì mà nhân viên của bạn muốn tin tưởng bạn biết về telecommuting.

 

Những người làm việc từ xa cũng cần đến những kỹ năng về công nghệ đặc biệt để làm việc tại nhà. Trong một bài viết khác chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về một số kỹ năng đặc biệt mà những người làm việc từ xa cần phải có.

 

1. Telecommuting tiết kiệm được nhiều chi phí, đó là một sự thật

 

Nhiều công ty có khả năng lợi dụng nguồn tài chính theo một số cách từ việc hỗ trợ cho người làm việc từ xa. Đầu tiên, với một số lượng ít người làm việc tại văn phòng chính của công ty sẽ tiết kiệm cho công ty nhiều kinh phí đắt đỏ về việc thuê mướn văn phòng, đồ đạc trang bị và sự bảo trì những tiện nghi đó.

 

Thứ hai, các công ty có thể thuê các nhân viên làm việc từ xa rộng khắp, tính theo góc độ địa lý. Họ có thể thuê những nhân viên có chất lượng mà không cần quan tâm đến vị trí địa lý. Cho ví dụ, một công ty ở vùng vịnh San Francisco có thể tìm kiếm một lập trình viên hàng đầu để làm việc từ xa từ Oklahoma để giảm được đáng kể tiền trả cho các chuyên gia phát triển gần đó bởi tiền thuê nhà quá cao.

 

Những ưa điểm ở đây còn phải kể đến đó là sự tham gia của những công dân bị tàn tật, 70% trong số người này không có công ăn việc làm, lý do chính là thiếu phương tiện giao thông thích hợp với họ để đến nơi làm việc, đặc biệt trong những vùng nông thôn. Làm việc từ các văn phòng ở nhà được trang bị đủ công nghệ tiên tiến thông qua VPN và băng thông rộng có thể khắc phục được những hạn chế này.

 

2. Người làm việc từ xa có thể cho năng suất lao động cao hơn

 

Một trong những trở ngại lớn nhất đối với telecommuting là việc thuyết phục các ông chủ rằng cách làm việc từ xa sẽ không dẫn đến tình trạng chểnh mảng. Vấn đề này đã được trải nghiệm, nhiều nhà quản lý cho rằng cứ không nhìn thấy là không làm việc, điều đó tạo ra sự cản trở lớn đối với telecommuting.

Mong rằng các nhà quản lý CNTT vượt qua được trở ngại “thời gian hiện hữu = năng suất lao động”. Vì đôi khi một số người thực sự chỉ làm việc hiệu quả khi làm việc từ xa, họ có thể nghỉ ngơi một chút khi đầu óc họ cảm thấy mệt mỏi hoặc chỉ cần tốn 15 phút để tiếp ông thợ sửa nước chứ không phải 45 phút để về nhà, tiếp đó là đợi khoảng một giờ đến hơn đó cho tới khi họ hoàn toàn công việc và 45 phút nữa để quay trở lại văn phòng làm việc.

 

Hầu hết các người làm việc từ xa tin tưởng rằng họ đạt được năng xuất lao động tốt hơn khi làm việc tại nhà so với trong văn phòng. Tại sao ư? Đó là sự tĩnh lặng hơn, công việc làm ít bị gián đoạn hơn.

 

3. Telecommuting không cho các cá nhân riêng lẻ

 

Những người làm việc từ xa hạnh phúc là thứ đầu tiên để nói với bạn rằng “lifestyle” là không dành cho tất thảy mọi người. Họ cần tự bắt đầu, cần tìm các cách khác nhau để tương tác với các đồng nghiệp, họ phải tin tưởng rằng những ưu điểm có giá trị hơn nhiều so với những nhược điểm.

 

Một số nhà quản lý không thích cách thức làm việc từ xa này vì những cảm nhận của họ không được tốt trong quá khứ. Họ có thể cho phép ai đó làm việc từ nhà, nhưng lại thiếu động cơ cần thiết để làm việc từ xa và bị ăn mòn bởi nó. Các chuyên gia CNTT làm việc từ xa mong các nhà quản lý CNTT hiểu rằng cảm nhận đó sẽ không phải là một lý do cho trở ngại này. Những con người khác nhau sẽ thành công trong những môi trường khác nhau đó là vì  telecommuting không làm việc cho bạn (hoặc vợ, chồng bạn) không có nghĩa nó không làm việc cho ai đó.

 

Một giải pháp rõ ràng ở đây là xem telecommuting như một phần thưởng cho các nhân viên văn phòng làm việc năng suất. Mặc dù vậy, trường hợp này không hẳn lúc nào cũng đúng. Một số người cần đến sự nhộn nhip và hối hả của môi trường văn phòng để thực hiện tốt công việc của họ sẽ không thích hợp khi làm việc ở nhà một mình.

 

Thay vì đó, Telecommuting đơn giản là một tùy chọn để tạo cảm nhận cho các chuyên gia CNTT, những người biết được môi trường tốt nhất để truyền cảm hứng cho năng suất làm việc của anh ta. Cho ví dụ, Steve O’Hara-Smith, một chuyên gia phát triển UNIX với 27 năm trong nghề thương mại cho rằng các nhà quản lý cần phải tạo cho telecommuting một sự lựa chọn dễ dàng bất cứ khi nào cũng phải khả thi, thay vì việc yêu cầu các điều kiện khác thường trước khi thực hiện nó. Telecommuting không nên bị hạn chế trong các tình huống mở ở đó văn phòng bị ngập lụt, các nhân viên bị thương không thể đến được văn phòng hoặc bị hỏng đường sắt khiến mọi người không đến được trụ sở chính. Một lý do mà tại sao mà O’Hara-Smith có thể bắt đầu làm việc theo cách telecommuting là anh ta đã phải đối mặt với các điều kiện không thể của chính anh – các vấn đề về sức khỏe gia đình.

 

4. Tin tưởng những người của bạn

 

Sự tin tưởng là vấn đề cốt lõi cho những người làm việc từ xa. Sự hiện diện hay không hiện diện của nó tạo ra một sự khác biệt lớn về tinh thần của họ. Nếu bạn thuê một chuyên gia có danh tiếng, và anh ta là người biết quản lý thời gian của mình, trong khi đó bạn lại cư xử với họ giống như một cậu bé học cấp ba thì chắc chắn họ sẽ đi tìm một công việc khác.

 

Rõ ràng sự tin tưởng là quan trọng để có được sự thành công với telecommuting. Điều này đã mất nhiều năm trong trải nghiệm của một số nhân viên, một người được sự chấp thuận làm việc ở nhà hai ngày mỗi tuần. Tuy nhiên người quản lý của cô ta đã đồng ý một cách miễn cưỡng và nó được thể hiện ra ngoài bằng hành vi của anh ta. Hành động đồng ý miễn cưỡng đó đã ảnh hưởng vào tinh thần của nhân viên này và làm cho cô ta cảm thấy không được tin tưởng và tôn trọng như trước và ảnh hưởng rõ ràng đến công việc.

 

5. Các kỹ năng quản lý cho Telecommuting

 

Telecommuting là một bài test đích thực cho kỹ năng quản lý của một nhà quản lý. Đã rất khó để đánh giá năng suất lao động khi làm việc tại văn phòng, giờ đây những người giám sát cần phải bổ sung thêm sự phức tạp cho cách thức làm việc này. Và không phải nhà quản lý nào cũng có được các kỹ năng cần thiết chi việc quản lý làm việc từ xa.

 

Các nhà quản lý cần phải biết cách quản lý tài nguyên, các vấn đề khác,… có thể ảnh hưởng đến công việc. Nếu họ không có khả năng truyền thông tốt, không biết cách quản lý thời gian của họ thì chắc chắn rằng công việc sẽ không thể trôi chảy và tạo được năng suất.

 

Những người làm việc từ xa mong muốn rằng các nhà quản lý nên tập trung vào kết quả công việc. Tập trung vào việc quản lý công việc thay cho các nhân viên. Các nhân viên giám sất họ phải thông tin một cách rõ ràng đối với một khái niệm nào đó và các thời hạn mục tiêu lẫn sự phụ thuộc của họ. Không chỉ cung cấp cho họ sự sắp xếp và ngày hạn định; các nhân viên quản lý còn phải bảo đảm rằng anh ta biết nội dung bên trong dự án và ở đâu nhiệm vụ thích hợp hơn.

 

Tập trung vào đầu ra không đơn giản là vấn đề tìm ra người gặp phải lỗi trong sản xuất. Mà nó phải hòa với cách mọi người thực hiện được công việc của họ. Cho ví dụ, nếu một nhân viên làm việc từ xa kết thúc dự án trước hạn dịnh, người quản lý nhân viên này nên tìm ra xem nhân viên có thể bắt đầu một nhiệm vụ mới hay không hay anh ta chỉ tốn thời gian rảnh rỗi để thực hiện những thứ khác. Một số người luôn gặp thời hạn cuối cùng cần phải có phần thưởng xứng đáng cho họ. Ngược lại, nếu ai đó để công việc vượt quá hạn định, nhà quản lý cần phải tìm ra nguyên nhân gốc của vấn đề; không chỉ thừa nhận sự kém cỏi trong năng lực làm việc của nhân viên.

 

6. Liên lạc người làm từ xa theo một vòng lặp

 

Tập trung hết sức vào các nhiệm vụ nhưng cũng không nên bỏ bê việc kiểm tra theo dĩ những nhu cầu con người của những người làm việc từ xa – đặc biệt nếu họ hiếm khi có cơ hội tương tác với các nhân viên khác. Điều đó nói lên rằng cần có những cần phải bỏ ra một chút thời gian để chúc mừng sinh nhật họ (thậm chí nếu chỉ cần bằng email), bày tỏ sự quan tâm về các vấn đề họ gặp phải và chia sẻ tình cảm với họ trong những thời điểm nào đó. Dù bạn có thể thực hiện bất cứ cách nào đi nữa, nhưng cần thiết là phải để làm họ cảm thấy như một phần của công ty.

 

Nhân viên quản lý nên quy định những người làm việc từ xa phải có một số lượng đáng kể những cuộc gặp gỡ mặt đối mặt với nhân viên quản lý và phần còn lại của nhóm để lĩnh hội đủ các vấn đề có thể bị thất lạc do điện thoại.

 

Một số người khuyên rằng các nhân viên quản lý nên thiết lập các cuộc meeting bằng điện thoại “một – một” với mức độ thường xuyên – không cho mục đích quản lý sự hiện diện mà để bảo đảm sự quan tâm về việc quản lý từ xa được bộc lộ. Những cuộc meeting, mặt đối mặt hoặc trên điện thoại, cho phép các nhà quản lý có cơ hội kết nối với những người làm việc từ xa của mình bên cạnh đó còn có thể nhận được nhiều thông tin phản hồi và các vấn đề có giá trị khác.

 

7. Các công cụ và công nghệ tạo sự khác biệt lớn

 

Thật thú vị, công nghệ không phải là hàng rào chắn khi nói đến telecommuting. Trong thực tế, nó lại là những gì cho phép các nhân viên có thể làm việc tại nhà (ngoại từ khi không có mạng và máy chủ). Bất cứ người nào có một kết nối Internet (đôi khi có thể là một VPN) cũng đều có thể thực hiện tốt công việc của họ. Tuy nhiên nếu bạn muốn các nhân viên làm việc từ xa của mình thành công, bạn cần phải cung cấp cho họ một số công cụ cần thiết và bảo đảm rằng họ được tích hợp vào các luồng công việc của doanh nghiệp.

 

Tập các công cụ tối thiểu cho các nhân viên làm việc từ xa gồm:

 

* Điện thoại văn phòng tốt với tính năng voice-mail để chuyển tiếp các cuộc gọi đến từ bàn làm việc đến nhà riêng.

* Một kết nối Internet nhanh và có độ tin cậy cao

* Truy cập VPN vào mạng công ty

* Một mạng nội bộ cho phép truy cập các thông tin cần thiết cho các công việc hàng ngày.

* Các công cụ hội thảo từ xa

* Các công cụ chia sẻ trình diễn

* Các ứng dụng làm việc từ xa

*  (IM) client

 

IM chính là một công cụ hữu dụng cho các nhân viên làm việc từ xa và những người quản lý của họ. Nó có thể giúp cho những người làm việc từ xa kết nối được với văn phòng và những nhân viên ngang hàng với họ. Ưu điểm của IM còn cho phép các nhân viên làm việc part-time hiện hữu thường xuyên hơn, chính vì vậy những người quản lý các nhân viên làm việc part-time đó thấy được các nhân viên của họ nhiều hơn, tạo được sự gần gũi trong công việc hơn.

 

Khi bạn thiết lập một VPN và phần mềm công ty khác, hãy bảo đảm rằng nó có thể làm việc với cả hệ điều hành khác ngoài Windows. Thậm chí nếu công ty bạn là một cửa hàng của Microsoft, cần phải bảo đảm cho những người làm việc từ xa – đặc biệt những người yêu cầu sử dụng máy tính cá nhân của họ – có thể sử dụng bất cứ hệ điều hành nào mà họ ưa thích. Điều này yêu cầu công ty cần phải mua các đăng ký VPN thêm cho hỗ trợ này.

 

Tuy nhiên việc chỉ ra phần mềm và các dịch vụ một nhóm nào đó cần không phải lúc nào cũng là một nhiệm vụ dễ dàng. Quả thực thứ lớn nhất phải đối mặt là phải tìm ra các công cụ và các không gian để chia sẻ và cộng tác.

 

Bên cạnh đó bộ phận hỗ trợ CNTT của doanh nghiệp cũng cần phải hỗ trợ tích cực cho những người làm việc từ xa. Phải coi những người làm việc từ xa như một phần của cơ sở hạ tầng và sự hỗ trợ công nghệ cho các nhân viên này cần ngang bằng với các nhân viên trong văn phòng. Để telecommuting đạt được thành công, bạn cần phải có việc kiểm tra giám sát chặt chẽ.

 

Telecommuting mang đến nhiều lợi ích đáng kể cho nhiều người, với khả năng linh hoạt tuyệt vời và sức mạnh trên khả năng lập lịch biểu của chúng . Nó trợ giúp rất nhiều cho các doanh nghiệp để có thể thuê đúng người cho công việc mà không cần quan tâm đến vị trí địa lý hay giờ cao điểm. Mặc dù vậy, cũng như nhiều loại hình làm việc khác, để tăng được lợi ích, các nhà quản lý CNTT phải học được các kỹ năng mới, thiết lập các kiểu làm việc mới và mở rộng sự hiểu biết của họ về năng suất lao động của các nhân viên.

(Nguồn Quản Trị Mạng)


7 công cụ giúp quản lý tốt hơn các mạng xã hội

10.01.2011

Theo quản trị mạng

7 công cụ giúp quản lý tốt hơn các mạng xã hội <span><img src='../../templates/standard/img/icon_premium-widget.gif' _fcksavedurl='../../templates/standard/img/icon_premium-widget.gif' /></span>Khi bạn trở thành thành viên của một vài trang mạng xã hội – chẳng hạn như Facebook, LinkedIn, Twitter – việc bắt kịp với chúng có thể là một việc khá vất vả. Tweet cái này, nâng cấp trạng thái kia hay chia sẻ liên kết ở đây. Nếu bạn quyết tâm làm cho các trang mạng xã hội của mình có tổ chức hơn, hãy tham khảo 7 công cụ mà chúng tôi giới thiệu trong bài này.

 

1. 8Hands

Ứng dụng desktop cho phép sắp xếp các profile trên các trang mạng xã hội mà bạn tham gia (chẳng hạn như Facebook, WordPress, Flickr, Twitter và YouTube) vào một địa điểm. Nó sẽ gửi cho bạn các thông báo khi bạn nhận được các bình luận, tin nhắn, yêu cầu kết bạn hoặc video mới; tạo tóm tắt và các thống kê về các hành động trên mạng xã hội của bạn; đặc biệt là một cửa sổ chat, ở đây bạn có thể kéo và thả các đoạn video YouTube hoặc các bức ảnh trên Flickr để chia sẻ với những người khác.

2. Atomkeep

Dịch vụ này cho phép bạn có thể import, đồng bộ và hợp nhất dữ liệu profile của mình từ các site mạng xã hội như LinkedIn, Facebook, Twitter, Yelp, Digg và Plurk. Nó cũng làm cho việc nâng cấp các mẩu tin – chẳng hạn như địa chỉ email – trong các nền tảng mạng xã hội này một cách khá dễ dàng: Nâng cấp trường nào đó trong Atomkeep profile (thay vì phải ghé thăm mỗi site một cách lẻ tẻ) và đẩy nó đến tất cả hoặc chọn các site.

3. FriendBinder

FriendBinder sẽ hợp nhất danh sách các bạn bè hiện có của bạn từ các mạng khác nhau và hiển thị họ vào một luồng thông tin chung. Nó sẽ sắp xếp các tin nhắn trực tiếp và các đề cập Twitter của bạn, hiển thị thời điểm khi ai đó favorite một bức ảnh của bạn trên Flickr hoặc mời bạn tham dự một sự kiện nào đó trên Facebook. FriendBinder cũng hiển thị các chủ đề theo hướng và các đoạn hội thoại Twitter, khiến chúng trở nên dễ hiểu hơn.

4. FriendFeed

Công cụ này sẽ hiển thị một feed thời gian thực và cá nhân hóa những gì mà bạn bè của bạn đang chia sẻ trên các mạng xã hội khác nhau. Bạn có thể comment hoặc “like” các mục xuất hiện trong feed của mình, có các cuộc đàm thoại thời gian thực với bạn của mình về các post. Bạn cũng có thể chọn từ một danh sách khoảng 50 trang mà bạn có thể đã đăng ký thành viên và chia sẻ các mục với bạn bè của mình.

5. Ping.fm

Về cơ bản, một site sẽ cho phép bạn nâng cấp nhiều trạng thái một cách đồng thời, Ping.fm sẽ nhóm các dịch vụ vào ba hạng mục – nâng cấp trạng thái, blog và microblog. Bạn có thể cấu hình tài khoản để tập hợp nội dung từ một vài dịch vụ, chẳng hạn như Delicious, Facebook, Laconica, LinkedIn, Twitter và WordPress.

6. Pond

Công cụ tập hợp và xuất bản Pond cho phép bạn theo kịp bạn bè, chọn lọc các thông tin về họ và chia sẻ nội dung. Pond cũng cho phép bạn hợp nhất các nhận dạng trực tuyến của bạn bè – chẳng hạn như nếu ai đó (trong số bạn bè của bạn) là một thành viên trên Twitter, Facebook và Flickr, thì bạn có thể thấy các nâng cấp từ các dịch vụ này theo một dòng thời gian tích hợp. Pond cũng cho phép bạn xuất bản các thông tin đến nhiều site bằng một nâng cấp.

7. Shareaholic

Shareholic là một add-on trình duyệt có khả năng tùy chỉnh, cho phép bạn chia sẻ nội dung với khoảng 60 mạng xã hội khác. Bằng cách kích vào biểu tượng Shareaholic, bạn có thể chia sẻ tức thời trang mà bạn đang truy cập (nó sẽ rút ngắn liên kết cho bạn một cách tự động). Thêm vào đó Shareaholic cũng hiển thị các chủ đề theo hướng thời gian thực, cho phép bạn tìm tin tức, video và blog mới nhất.


CIO trong môi trường di động

10.01.2011
Theo CIO.com
CIO trong môi trường di động <span><img src='../../templates/standard/img/icon_premium-widget.gif' /></span>

Nhiều công ty đã cho phép một số nhân viên có thể làm việc tại bất cứ nơi nào họ muốn, miễn sao công việc hoàn thành đúng thời hạn và đạt hiệu quả cao nhất. Trong môi trường di động này, các giám đốc công nghệ thông tin (CIO) đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới.

 

Khi công nghệ di động ngày càng phát triển, người ta ngày càng có thể làm việc linh hoạt ở mọi nơi. Khái niệm “môi trường làm việc di động” (mobile work) đã được định hình. Làm sao để tối ưu hóa hiệu quả công việc trong môi trường di động đó, đặc biệt đối với các CIO? Chris Clark, Giám đốc điều hành của Fiberlink, đã đúc kết và chia sẻ những điều nghiên cứu và kinh nghiệm của mình trong bài viết “Môi trường làm việc di động là một hình thái mới”, đăng trên tạp chí CIO.

“Hình thái mới” là gì?

Mỗi nhân sự đều phải làm việc theo những chuẩn mực nhất định và không có bất cứ sự loại trừ nào. Đó chính là hình thái mới của môi trường làm việc di động.

Phần đông các kỹ sư công nghệ thông tin (CNTT) vẫn tuân thủ quy tắc giải quyết công việc tại văn phòng, nơi mà họ phân quyền, quản lý và hầu như bắt buộc tất cả nhân viên của công ty đều phải làm việc trên mạng nội bộ (LAN) và những người làm việc ở những nơi khác được xem là những thành phần bên ngoài. Hình thức này thực sự đã lỗi thời.

Theo kết quả nghiên cứu, các trưởng phòng CNTT cho biết có từ 30% đến 50% nhân viên trong hầu hết các công ty làm việc bên ngoài văn phòng ít nhất một lần trong tuần. Đó là các nhân viên thuộc các bộ phận quản lý cấp cao, kinh doanh, tư vấn và các kỹ sư CNTT thường hay làm việc ở nhà vào các buổi tối và ngày cuối tuần. Quan điểm cũ cho rằng bộ phận CNTT cần phải quản lý các thiết bị văn phòng và các nhân viên sử dụng chúng đều phải rời khỏi văn phòng trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 21 giờ. Giờ đây, một hình thức quản lý CNTT linh hoạt hơn đang là một yêu cầu thực tiễn mà các CIO phải tham khảo và thực hiện.

Trên thực tế, các công ty nên quản lý công việc của nhân viên bằng việc giao chỉ tiêu nhất định. Thứ nhất, điều này giúp bảo đảm cũng như giúp nhân viên hoàn thành công việc có hiệu quả và đúng tiến độ. Thứ hai, giảm thiểu những công việc bàn giấy chán ngấy luôn gây áp lực cho nhân viên để họ tập trung nhiều hơn cho những công việc đòi hỏi tính sáng tạo và chính xác. Vì thế, các công ty nên thiết kế quy trình quản lý phù hợp đối với những nhân viên không làm việc tại văn phòng, cũng như tạo ra những công cụ hỗ trợ phù hợp để áp dụng đối với toàn thể nhân sự của công ty.

Thách thức nào đối với CIO?

Rất dễ nhận ra rằng các CIO không dễ quản lý nhân viên khi họ không thấy tận mắt nhân viên của mình đang làm việc. Cho nên, việc quản lý nhân viên làm việc di động sao cho có hiệu quả là một trong những vấn đề gây đau đầu cho các CIO, đặc biệt là việc quản lý tài sản công và các dữ liệu của công ty. Có nên cấm nhân viên làm việc tại nhà hay ở đâu đó? Ngày nay, khi vấn đề nhân viên thích làm việc linh hoạt đã trở thành một xu hướng, các CIO cần phải cân nhắc kỹ càng để không phải ngăn một số nhân viên làm việc di động nữa.

Tuy nhiên, khi càng có nhiều nhân viên làm việc như thế, công ty sẽ có thể gặp khó khăn trong vấn đề quản lý và chi phí có thể gia tăng. Sẽ rất khó để quản lý chi phí và hỗ trợ nhau trong công việc cũng như bảo đảm an ninh. Vì vậy, các CIO nên tập trung vào các vấn đề cốt lõi sau, nếu như công ty chấp nhận cho nhân viên làm việc tại nhà hay ở bất kỳ nơi nào đó.

* An ninh. Khi nhân viên không làm việc tại văn phòng công ty, một số biểu mẫu họ mang theo để làm việc có thể bị mất mát vì việc kết nối các thiết bị cầm tay, lúc đó, không còn nằm trong quyền quản trị hệ thống của bộ phận CNTT nữa. Họ cũng có thể không kết nối vào hệ thống, mặc dù họ đang kết nối qua cổng Internet của công ty. Khi một thiết bị di động kết nối vào Internet của công ty qua VPN, CIO cũng không tài nào phát hiện được điểm đầu cuối. Điều này rất nguy hiểm cho hệ thống mạng của công ty, khi virus và các phần mềm nguy hại tấn công có thể làm tê liệt phần mềm “bảo mật” của công ty bất cứ lúc nào. Do vậy, các kỹ sư CNTT cần phải thường xuyên quản lý các phần mềm “bảo mật” như tường lửa, diệt virus, mã hóa dữ liệu, thiết lập hệ thống camera “bảo mật” nhằm gia tăng mức độ quét và lọc các cuộc xâm nhập trái phép từ các thiết bị đầu cuối.

* Đồng nhất. Để tương thích với các quy định của Chính phủ và nội bộ ngành, các kỹ sư CNTT phải chịu nhiều áp lực trước yêu cầu phải có những tiêu chuẩn kỹ thuật cao và xuyên suốt. Một vài tiêu chuẩn phải bảo đảm được tính an toàn đặc biệt như tường lửa, chống virus và đồng bộ hóa dữ liệu; trong khi những yêu cầu này rất khó để thiết lập trên các hệ thống di động. Hơn nữa, khi các kiểm toán viên yêu cầu có những chứng từ liên quan đến việc thực hiện chế độ bảo mật, việc tập hợp thông tin từ các thiết bị di động luôn gây mất thời gian.

* Chi phí. Khi công ty có nhân viên làm việc di động, chi phí thường gia tăng nhiều ở hai mảng gồm hỗ trợ nhân viên và quản lý hiện trạng.

Việc quản lý các máy tính xách tay, các thiết bị cầm tay và các máy tính khác tại những khu vực nào đó luôn là bài toán chi phí hóc búa cho các CIO, không chỉ trong việc gia tăng nhân sự phụ trách công việc này mà còn là vấn đề phân quyền thích hợp. Những nhân sự này phải làm việc hàng giờ để quản lý hệ thống, từ việc áp dụng chế độ bảo mật, nâng cấp phần mềm, xác định các tập tin chứa virus và các phần mềm phá hoại, cho đến theo dõi vấn đề, xử lý dữ liệu và nâng cấp hệ thống. Họ càng mất nhiều thời gian hơn với các thiết bị di động. Và như thế, công ty phải tăng lương bổng cũng như chi phí quản lý.

Chỉ có công nghệ thay thế thì chưa đủ. Trong nhiều trường hợp, việc chuẩn hóa các máy tính để bàn và các máy tính nội mạng có thể giúp định ra những thách thức mà hệ thống di động mang lại, đặc biệt đối với một vài ứng dụng đa dạng để xác định những kết nối vi phạm thường thấy. Tuy nhiên, nhiều nhân viên làm việc di động – có thể là nhân viên kinh doanh, nhân viên tư vấn hay kỹ sư, nhân viên CNTT – thường không am tường các công nghệ này; có thể vì họ thường chỉ chuyển tải các văn bản, các hình ảnh hay các tập tin thiết kế hoặc vì họ làm việc trong những môi trường mà công nghệ này chưa được ứng dụng trước đó.

Chất lượng của mạng nội bộ (LAN). Những thách thức từ “hình thái mới” có thể được tổng hợp khi có nhu cầu tất yếu là phải tu chỉnh các đặc tính và chất lượng của mạng LAN trong môi trường làm việc có nhiều thiết bị di động, mạng không dây và Internet được hỗ trợ bởi điện toán đám mây. Nói cách khác, các nhân viên giờ đây hy vọng sử dụng được đầy đủ tính năng và mức độ an toàn cao từ mạng LAN, dù cho họ có đang ở trong quán cà phê hay đang ở nhà. Tuy nhiên, công ty sẽ không thiết lập cấu hình cho họ bởi chính họ không biết được điều gì sẽ xảy ra với các thiết bị di động của mình. Vì vậy, yêu cầu cần hiển thị đồng bộ đối với “hình thái mới” này sẽ là tất yếu.

Minh bạch trong môi trường di động

Tại sao phải có tính minh bạch? Đơn giản vì khi đặc tính này được gia tăng, các CIO sẽ không phải nặng đầu với các thách thức mà môi trường làm việc di động mang lại. Khi tính minh bạch được tăng lên, công ty chắc chắn sẽ có những quyết định tốt hơn trong việc quản lý kinh doanh của mình.

Đối với vấn đề bảo mật. Nếu bạn phát hiện được những cuộc xâm nhập nguy hiểm đối với hệ thống, bạn sẽ dễ dàng triệt tiêu chúng trong khi các ứng dụng như tường lửa, chống virus và đồng bộ hóa dữ liệu vẫn đang vận hành. Nói cách khác, bạn hoàn toàn có thể ngắt kết nối đối với thiết bị di động của nhân viên nào đang có nguy cơ phá hoại hệ thống.

Đối với chi phí. Nếu xác định được thiết bị của nhân viên nào ít sử dụng, bạn có thể cắt chi phí đó và bổ sung cho nhân viên khác. Việc thực hiện chỉ đơn giản là rút lại bản quyền phần mềm.

Đối với kết nối Internet. Nếu bạn thấy khi nào và bằng cách nào đó, nhân viên đang kết nối Internet, bạn có thể tư vấn cho họ cách kết nối an toàn và hiệu quả nhất.

Quyết định tốt hơn cho công ty. Hiện nay, hầu hết CIO vẫn đang loay hoay với việc cân đối tính hiệu quả và tính trách nhiệm khi quản lý CNTT cho công ty. Với chuẩn hiển thị ứng dụng vào các phần mềm và các ứng dụng trên các thiết bị đầu cuối, kể cả CIO và trưởng phòng CNTT đều có thể xác định nhân viên, hệ thống hay hoạt động nào có nguy hại đến hệ thống cũng như hiểu rõ hệ thống nào đang được bảo vệ tuyệt đối và an toàn.

Khi các trưởng phòng tự tin về những dữ liệu này, họ hoàn toàn có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhất để nâng cao hiệu quả công việc và cắt giảm chi phí khi cảm thấy hệ thống đang an toàn. Họ cũng có thể quyết định về việc bảo mật thông tin cũng như hệ thống nào cần được vận hành trước.

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều công ty cho phép nhân viên làm việc linh hoạt tùy theo nhiệm vụ công việc của từng người. Xu hướng này ngày càng phổ biến, các CIO Việt Nam sẽ giải bài toán này ra sao? Câu trả lời vẫn còn đang mở.


Bài toán giám sát nhân viên sử dụng Internet

10.01.2011
Theo Bwportral

Trên cương vị nhà quản lý, một trong các nhiệm vụ của bạn là giám sát hoạt động của nhân viên liên quan tới Internet, từ  việc gửi e-mail và các tin nhắn (messenger) cho đến việc ghé thăm các trang web trong giờ làm việc.Và sau đó thông báo với họ – một cách trung thực và đầy đủ nhất – về những gì bạn đã làm và tại sao bạn lại phải làm như vậy.


Hiện nay, đây là một vấn đề mà nhiều nhà quản lý doanh nghiệp phải đối mặt. Các thiết bị giám sát nhân viên – được biết nhiều như “spyware” – đang trở nên hấp dẫn, giá rẻ và dễ sử dụng. Giá trị của các thiết bị này nằm ở chỗ gia tăng tính bảo mật; giảm thiểu các hành vi không đúng mực của nhân viên trong giờ làm việc; tránh rò rỉ các thông tin mang tính cạnh tranh,….

Tuy nhiên, nhiều nhân viên lại coi đây như một hành vi xâm phạm đến quyền cá nhân. Nếu kế hoạch giám sát không được giải thích rõ ràng, công ty can thiệp quá sâu vào sự riêng tư của nhân viên, thì hiệu quả công việc của họ sẽ giảm sút và có thể những nhân viên tốt sẽ ra đi, thậm chí các vụ kiện tụng sẽ xảy ra.

Vậy lời giải đáp cho bài toán giám sát nhân viên sẽ phải như thế nào? Liệu đó có phải là một nhiệm vụ bất khả thi? Dưới đây là những đánh giá sơ bộ và một vài chiến lược thực thi giám sát hoạt động của nhân viên liên quan tới internet.

Việc sử dụng Internet tại công sở đang gia tăng và kéo theo đó là sự ra đời của một loạt các phần mềm giám sát

Một nghiên cứu của tổ chức phi lợi nhuận Privacy Foundation gần đây cho thấy tại Mỹ có đến 31% nhân viên truy cập Internet và kiểm tra hộp thư điện tử thường xuyên tại văn phòng làm việc. Con số này trên toàn thế giới là khoảng 12%. Vì vậy, số lượng các công ty tiến hành giám sát việc sử dụng e-mail và Internet của các nhân viên cũng gia tăng nhanh chóng. Không ít công ty đã phải sàng lọc và khoá các trang web không thích hợp.

Rõ ràng, việc gia tăng các hoạt động giám sát không chỉ vì mối lo an ninh mà phần lớn là vì hiện tượng nhân viên lạm dụng truy cập Internet trong giờ làm việc cho các nhu cầu riêng tư. Vì nhu cầu kinh doanh, các công ty buộc phải cho phép nhân viên truy cập Internet tốc độ cao. Song bên cạnh những tác dụng tích cực, nhiều tác hại đã phát sinh. Và các công ty buộc phải giám sát hoạt động này để tránh việc nhân viên truy cập những trang web khiêu dâm, cờ bạc hay làm các công việc cá nhân khác thông qua Internet và e-mail.

Có cung ắt có cầu. Hiện nay, các sản phẩm giám sát nhân viên là rất đa dạng về tính năng, từ đơn lẻ cho đến toàn diện. Ví dụ, phần mềm Websense Enterprise của hãng Websense có thể lọc các trang web theo yêu cầu. Cũng như vậy, phần mềm Clearswift MIMEsweeper là một sản phẩm phổ biến để kiểm tra e-mail.

Phần mềm WinWhatWhere của hãng TrueActive Software có thể giám sát mọi e-mail, tin nhắn messenger và các văn bản tài liệu được gửi đi/nhận về, cũng như mọi động tác gõ bàn phím trên chiếc máy tính có cài đặt phần mềm. Bản cập nhật mới nhất còn có chức năng ghi lại hình ảnh trên webcam, chụp ảnh màn hình và đọc các phím gõ đa ngôn ngữ. Richard Eaton, sáng lập viên kiêm giám đốc công nghệ của TrueActive Software, cho biết khoảng 80% khách hàng của hãng là các công ty, còn lại là các cơ quan chính phủ, hoặc bố mẹ giám sát con cái, vợ giám sát chồng.

Đạt được một sự cân bằng thích hợp

Theo nhiều nhà phân tích, mặc dù mối quan tâm hàng đầu của nhiều công ty hiện nay là việc sử dụng các phần mềm giám sát nhân viên, “nhưng họ sẽ phải thông báo với các nhân viên về những điều họ làm và giải thích lý do tại sao”, – Michael Gartenberg, giám đốc nghiên cứu tại hãng Jupiter Research, cho biết.

“Các nhân viên cần phải hiểu đó là quyền của chủ sử dụng lao động nhằm bảo vệ hoạt động kinh doanh khỏi những rủi ro hay gian lận”, Gartenberg nói, “Song, về phía các chủ sử dụng lao động, họ cũng phải giám sát theo một cách thích hợp nhất để đảm bảo sự cân bằng hợp lý khỏi làm mất niềm tin của các nhân viên đối với mình”.

Theo Ann Meany, chuyên gia tư vấn nhân sự cho hãng Watson Wyatt Worldwide thì trước khi bạn mua sắm bất cứ phầm mềm hay thiết bị giám sát nhân viên nào, hãy trả lời những câu hỏi dưới đây:

– Bạn sẽ dùng phần mền này để giải quyết một vấn đề, một mối quan tâm hay đơn thuần chỉ xuất phát từ một sự tưởng tượng nào đó? “Việc giám sát nhân viên chỉ vì những mong muốn và sở thích nhất thời sẽ không phải là lý do thích hợp”, Meany cho biết. Những lý do đúng đắn có thể là: an ninh và an toàn cho nhân viên, các vấn đề liên quan tới quấy rối tình dục, hoặc những mối quan ngại liên quan tới gian lận, gián điệp,…

– Đây có phải là một việc phù hợp với văn hóa công ty? Trong một công ty công ty nghiên cứu phát triển, công việc của các nhân viên mang tính độc lập cao thì việc giám sát chặt chẽ có thể gây ra nhiều tác hại hơn là những kết quả tích cực. Cũng như vậy, Meany chỉ ra rằng nếu công ty của bạn xây dựng những kế hoạch giữ chân nhân viên thông qua các đặc quyền cụ thể như các dịch vụ về giặt là, chăm sóc vật nuôi, chăm sóc con trẻ,…, bạn phải chấp nhận rằng các nhân viên sẽ dành một phần thời gian nào đó trong ngày làm việc để phục vụ các công việc cá nhân.

Nếu bạn nhận được những câu trả lời tích cực, tiếp theo, hãy tuân thủ theo năm lời khuyên sau đây trong việc giám sát các nhân viên:

1. Thông báo trước kế hoạch giám sát của bạn và nhận phản hồi từ phía các nhân viên

Bạn nên giải thích cho các nhân viên biết về phần mềm giám sát và những thông tin mà nó có thể đem lại cho nhà quản trị mạng và một số nhà quản lý khác. (Ví dụ, phần mềm WinWhatWhere có thể gửi hàng trăm bản báo cáo khác nhau về việc sử dụng máy tính tới địa chỉ e-mail của người yêu cầu).

Cách thức bạn giới thiệu và trình bày cho các nhân viên biết về kế hoạch giám sát là rất quan trọng. Trừ khi bạn có thể nói rõ ràng những lợi ích cụ thể, chẳng hạn như gia tăng hiệu suất làm việc, nâng cao mức độ an toàn và giảm thiểu các mối lo ngại về gian lận nội bộ hay những rủi ro khác, còn bằng không hãy sẵn sàng đón nhận những phản ứng mạnh mẽ từ phía các nhân viên.. Và nếu bạn không đưa ra bất cứ thông báo nào trước, thì bạn hoàn toàn có thể bị buộc phải đối mặt với một vụ kiện tụng sau đó.

2. Có hướng dẫn rõ ràng và cụ thể về những hành vi nào là không thể được chấp nhận

Việc vạch ra mọi tình huống có thể xảy ra là không thể thực hiện được. Nhưng nếu bạn lên kế hoạch để lọc ra một vài trang web nhất định, chẳng hạn như trang web khiêu dâm, cờ bạc hay thậm chí cả những trang web tuyển dụng khác, thì không có lý do gì để bạn giấu giếm điều này với các nhân viên.

“Sự quá chú trọng vào việc khoá các trang web vô bổ có khá tốn kém”, Meany cho biết, “Nhưng mỗi công ty phải tự quyết định việc này sao cho phù hợp nhất với yêu cầu công việc đề ra”. Vấn đề chính nằm ở chỗ các nhân viên sẽ làm việc tốt hơn và có trách nhiệm hơn nếu bạn hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho họ về những hành vi không thích hợp. Các nhân viên sẽ biết khi nào mình vi phạm các quy định của công ty.

Tương tự như vậy với e-mail cá nhân hay tin nhắn messenger. Có thể nhiều nhân viên không nhận ra rằng các tin nhắn cá nhân, không được mã hoá của họ có thể bị giám sát. Bạn hãy thông báo cho họ biết điều này.

3. Hãy thể hiện sự tôn trọng nhu cầu cá nhân và thời gian của nhân viên

Nếu công ty của bạn là nơi mà các nhân viên thường xuyên phải làm ngoài giờ, bạn cần thông cảm và thể hiện sự thiện ý với một vài hoạt động cá nhân trong giờ làm việc.

Nếu công việc trong công ty trường xuyên trong tình trạng quá tải đối với nhân viên, nên cho phép họ có một khoảng thời gian riêng tư nhất định thì hiệu suất công việc chung sẽ tốt hơn.

4. Cân bằng hợp lý giữa an ninh và quyền riêng tư

Nếu một nhân viên lãng phí một lượng lớn thời gian của họ vào những hoạt động vô bổ trên internet, có nghĩa bạn đã tuyển dụng không chuẩn xác.

Rõ ràng rằng hoạt động giám sát không chỉ đơn thuần để biết xem liệu có ai đó có đang chỉnh sửa lại bản sơ yếu lý lịch để gửi tới một công ty khác lớn hơn hay không mà còn để bảo vệ công ty khỏi sự rò rỉ những thông tin nội bộ cho giới báo chí hoặc cho các đối thủ cạnh tranh, hạn chế những hacker hay kẻ viết virus nội bộ, tránh những hành động quấy rối tình dụng hoặc các hành vi không mấy thích hợp, hay thậm chí là an ninh của cả quốc gia.

Song bạn cần nhớ kỹ rằng sự thái quá trong hoạt động giám sát nhân viên có thể dẫn tới nhiều kết quả trái ngược – chẳng hạn như có thể là bằng chứng chống lại công ty bạn trong những vụ kiện tụng pháp lý có liên quan.

5. Tuyển dụng những người bạn có thể tin cậy

Việc này bao giờ nói cũng dễ hơn làm, đặc biệt khi công ty bạn đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh hay là cần tuyển dụng hàng trăm nhân viên mỗi năm. Mặc dù vậy, những nhân viên đáng tin cậy sẽ rất dễ dàng để giám sát – và hơn nữa thậm chí không cần phải giám sát – hơn là những người bạn không thể tin cậy.

Hy vọng rằng với một sự cân nhắc thấu đáo mọi khía cạnh trước khi tiến hành giám sát việc sử dụng Internet trong công ty, bạn sẽ đạt được những kết quả tích cực. Khi đó một mặt, bạn có thể hạn chế, loại bỏ những gian lận, rủi ro kinh doanh hay những hành vi thiếu thích hợp, mặt khác, bạn có thể gia tăng đáng kế hiệu suất và tinh thần làm việc của các nhân viên.


%d bloggers like this: