7 điều các CIO nên biết về telecommuting

25.01.2011

Làm việc từ xa hay Telecommuting mang đến cho các nhân viên sự linh hoạt và khoảng yên lặng cần thiết để tối ưu hóa năng suất lao động của họ. Cộng thêm vào đó, loại hình lao động này còn cho phép có thể tiết kiệm được các chi phí  khác. Đối với các chuyên gia CNTT thì telecommuting là một cách sống và làm việc hữu hiệu nhất.

 

Mặc dù vậy, cách làm việc tại nhà không phải lúc nào cũng dễ dàng cho các nhân viên. Với telecommuting, những hỗ trợ để thực hiện cho cách làm việc này phải thỏa mãn một số vấn đề, đầu tiên đó là các nhân viên cần phải tự phải có động cơ, tiếp đó là cần sự hỗ trợ mạnh của công nghệ (chẳng hạn như kết nối Internet tốc độ cao và VPN), xác định rõ ràng công việc có thể được thực hiện từ xa. Bên cạnh đó cũng cần phải bảo đảm cho các nhân viên làm việc từ xa của họ cảm thấy thích thú như một phần của các nhóm nhân viên làm việc tại văn phòng, kết hợp với những người làm ở xa vào các luồng công việc và tính toán năng xuất lao động dựa trên kết quả thay cho những dấu hiệu ảo.

 

Đôi khi các thành phần ban quản lý CNTT không hiểu hết được những vấn đề chính có thể ảnh hưởng đến năng suất và tinh thần làm việc của các nhóm. Họ có thể tạo ra các lỗi làm cho người làm của họ cảm thấy buồn phiền và gây kém năng suất hay tốn nhiều chi phí mặc dù đã dốc toàn tâm sức vào công việc chung của công ty. Nếu muốn triển khai được cách làm việc từ xa, bạn phải có một đội các chuyên gia về công nghệ độc lập để có thể tự thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả; nếu không bạn sẽ tạo ra khoảng cách, mối bất đồng, sự ngờ vực và sự lộn xộn trong luồng công việc.

 

Bạn có cách để không phải lặp lại những lỗi của người khác. Trong bài báo này, quản trị mạng chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số vấn đề mà những nhân viên CNTT làm việc từ xa chia sẻ về những ưu điểm của telecommuting mang lại cho doanh nghiệp, bên cạnh đó là các quá trình giúp các nhân viên làm việc từ xa tương tác với các thành viên của nhóm khác, và một số vấn đề cần tránh. Đây là những gì mà nhân viên của bạn muốn tin tưởng bạn biết về telecommuting.

 

Những người làm việc từ xa cũng cần đến những kỹ năng về công nghệ đặc biệt để làm việc tại nhà. Trong một bài viết khác chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về một số kỹ năng đặc biệt mà những người làm việc từ xa cần phải có.

 

1. Telecommuting tiết kiệm được nhiều chi phí, đó là một sự thật

 

Nhiều công ty có khả năng lợi dụng nguồn tài chính theo một số cách từ việc hỗ trợ cho người làm việc từ xa. Đầu tiên, với một số lượng ít người làm việc tại văn phòng chính của công ty sẽ tiết kiệm cho công ty nhiều kinh phí đắt đỏ về việc thuê mướn văn phòng, đồ đạc trang bị và sự bảo trì những tiện nghi đó.

 

Thứ hai, các công ty có thể thuê các nhân viên làm việc từ xa rộng khắp, tính theo góc độ địa lý. Họ có thể thuê những nhân viên có chất lượng mà không cần quan tâm đến vị trí địa lý. Cho ví dụ, một công ty ở vùng vịnh San Francisco có thể tìm kiếm một lập trình viên hàng đầu để làm việc từ xa từ Oklahoma để giảm được đáng kể tiền trả cho các chuyên gia phát triển gần đó bởi tiền thuê nhà quá cao.

 

Những ưa điểm ở đây còn phải kể đến đó là sự tham gia của những công dân bị tàn tật, 70% trong số người này không có công ăn việc làm, lý do chính là thiếu phương tiện giao thông thích hợp với họ để đến nơi làm việc, đặc biệt trong những vùng nông thôn. Làm việc từ các văn phòng ở nhà được trang bị đủ công nghệ tiên tiến thông qua VPN và băng thông rộng có thể khắc phục được những hạn chế này.

 

2. Người làm việc từ xa có thể cho năng suất lao động cao hơn

 

Một trong những trở ngại lớn nhất đối với telecommuting là việc thuyết phục các ông chủ rằng cách làm việc từ xa sẽ không dẫn đến tình trạng chểnh mảng. Vấn đề này đã được trải nghiệm, nhiều nhà quản lý cho rằng cứ không nhìn thấy là không làm việc, điều đó tạo ra sự cản trở lớn đối với telecommuting.

Mong rằng các nhà quản lý CNTT vượt qua được trở ngại “thời gian hiện hữu = năng suất lao động”. Vì đôi khi một số người thực sự chỉ làm việc hiệu quả khi làm việc từ xa, họ có thể nghỉ ngơi một chút khi đầu óc họ cảm thấy mệt mỏi hoặc chỉ cần tốn 15 phút để tiếp ông thợ sửa nước chứ không phải 45 phút để về nhà, tiếp đó là đợi khoảng một giờ đến hơn đó cho tới khi họ hoàn toàn công việc và 45 phút nữa để quay trở lại văn phòng làm việc.

 

Hầu hết các người làm việc từ xa tin tưởng rằng họ đạt được năng xuất lao động tốt hơn khi làm việc tại nhà so với trong văn phòng. Tại sao ư? Đó là sự tĩnh lặng hơn, công việc làm ít bị gián đoạn hơn.

 

3. Telecommuting không cho các cá nhân riêng lẻ

 

Những người làm việc từ xa hạnh phúc là thứ đầu tiên để nói với bạn rằng “lifestyle” là không dành cho tất thảy mọi người. Họ cần tự bắt đầu, cần tìm các cách khác nhau để tương tác với các đồng nghiệp, họ phải tin tưởng rằng những ưu điểm có giá trị hơn nhiều so với những nhược điểm.

 

Một số nhà quản lý không thích cách thức làm việc từ xa này vì những cảm nhận của họ không được tốt trong quá khứ. Họ có thể cho phép ai đó làm việc từ nhà, nhưng lại thiếu động cơ cần thiết để làm việc từ xa và bị ăn mòn bởi nó. Các chuyên gia CNTT làm việc từ xa mong các nhà quản lý CNTT hiểu rằng cảm nhận đó sẽ không phải là một lý do cho trở ngại này. Những con người khác nhau sẽ thành công trong những môi trường khác nhau đó là vì  telecommuting không làm việc cho bạn (hoặc vợ, chồng bạn) không có nghĩa nó không làm việc cho ai đó.

 

Một giải pháp rõ ràng ở đây là xem telecommuting như một phần thưởng cho các nhân viên văn phòng làm việc năng suất. Mặc dù vậy, trường hợp này không hẳn lúc nào cũng đúng. Một số người cần đến sự nhộn nhip và hối hả của môi trường văn phòng để thực hiện tốt công việc của họ sẽ không thích hợp khi làm việc ở nhà một mình.

 

Thay vì đó, Telecommuting đơn giản là một tùy chọn để tạo cảm nhận cho các chuyên gia CNTT, những người biết được môi trường tốt nhất để truyền cảm hứng cho năng suất làm việc của anh ta. Cho ví dụ, Steve O’Hara-Smith, một chuyên gia phát triển UNIX với 27 năm trong nghề thương mại cho rằng các nhà quản lý cần phải tạo cho telecommuting một sự lựa chọn dễ dàng bất cứ khi nào cũng phải khả thi, thay vì việc yêu cầu các điều kiện khác thường trước khi thực hiện nó. Telecommuting không nên bị hạn chế trong các tình huống mở ở đó văn phòng bị ngập lụt, các nhân viên bị thương không thể đến được văn phòng hoặc bị hỏng đường sắt khiến mọi người không đến được trụ sở chính. Một lý do mà tại sao mà O’Hara-Smith có thể bắt đầu làm việc theo cách telecommuting là anh ta đã phải đối mặt với các điều kiện không thể của chính anh – các vấn đề về sức khỏe gia đình.

 

4. Tin tưởng những người của bạn

 

Sự tin tưởng là vấn đề cốt lõi cho những người làm việc từ xa. Sự hiện diện hay không hiện diện của nó tạo ra một sự khác biệt lớn về tinh thần của họ. Nếu bạn thuê một chuyên gia có danh tiếng, và anh ta là người biết quản lý thời gian của mình, trong khi đó bạn lại cư xử với họ giống như một cậu bé học cấp ba thì chắc chắn họ sẽ đi tìm một công việc khác.

 

Rõ ràng sự tin tưởng là quan trọng để có được sự thành công với telecommuting. Điều này đã mất nhiều năm trong trải nghiệm của một số nhân viên, một người được sự chấp thuận làm việc ở nhà hai ngày mỗi tuần. Tuy nhiên người quản lý của cô ta đã đồng ý một cách miễn cưỡng và nó được thể hiện ra ngoài bằng hành vi của anh ta. Hành động đồng ý miễn cưỡng đó đã ảnh hưởng vào tinh thần của nhân viên này và làm cho cô ta cảm thấy không được tin tưởng và tôn trọng như trước và ảnh hưởng rõ ràng đến công việc.

 

5. Các kỹ năng quản lý cho Telecommuting

 

Telecommuting là một bài test đích thực cho kỹ năng quản lý của một nhà quản lý. Đã rất khó để đánh giá năng suất lao động khi làm việc tại văn phòng, giờ đây những người giám sát cần phải bổ sung thêm sự phức tạp cho cách thức làm việc này. Và không phải nhà quản lý nào cũng có được các kỹ năng cần thiết chi việc quản lý làm việc từ xa.

 

Các nhà quản lý cần phải biết cách quản lý tài nguyên, các vấn đề khác,… có thể ảnh hưởng đến công việc. Nếu họ không có khả năng truyền thông tốt, không biết cách quản lý thời gian của họ thì chắc chắn rằng công việc sẽ không thể trôi chảy và tạo được năng suất.

 

Những người làm việc từ xa mong muốn rằng các nhà quản lý nên tập trung vào kết quả công việc. Tập trung vào việc quản lý công việc thay cho các nhân viên. Các nhân viên giám sất họ phải thông tin một cách rõ ràng đối với một khái niệm nào đó và các thời hạn mục tiêu lẫn sự phụ thuộc của họ. Không chỉ cung cấp cho họ sự sắp xếp và ngày hạn định; các nhân viên quản lý còn phải bảo đảm rằng anh ta biết nội dung bên trong dự án và ở đâu nhiệm vụ thích hợp hơn.

 

Tập trung vào đầu ra không đơn giản là vấn đề tìm ra người gặp phải lỗi trong sản xuất. Mà nó phải hòa với cách mọi người thực hiện được công việc của họ. Cho ví dụ, nếu một nhân viên làm việc từ xa kết thúc dự án trước hạn dịnh, người quản lý nhân viên này nên tìm ra xem nhân viên có thể bắt đầu một nhiệm vụ mới hay không hay anh ta chỉ tốn thời gian rảnh rỗi để thực hiện những thứ khác. Một số người luôn gặp thời hạn cuối cùng cần phải có phần thưởng xứng đáng cho họ. Ngược lại, nếu ai đó để công việc vượt quá hạn định, nhà quản lý cần phải tìm ra nguyên nhân gốc của vấn đề; không chỉ thừa nhận sự kém cỏi trong năng lực làm việc của nhân viên.

 

6. Liên lạc người làm từ xa theo một vòng lặp

 

Tập trung hết sức vào các nhiệm vụ nhưng cũng không nên bỏ bê việc kiểm tra theo dĩ những nhu cầu con người của những người làm việc từ xa – đặc biệt nếu họ hiếm khi có cơ hội tương tác với các nhân viên khác. Điều đó nói lên rằng cần có những cần phải bỏ ra một chút thời gian để chúc mừng sinh nhật họ (thậm chí nếu chỉ cần bằng email), bày tỏ sự quan tâm về các vấn đề họ gặp phải và chia sẻ tình cảm với họ trong những thời điểm nào đó. Dù bạn có thể thực hiện bất cứ cách nào đi nữa, nhưng cần thiết là phải để làm họ cảm thấy như một phần của công ty.

 

Nhân viên quản lý nên quy định những người làm việc từ xa phải có một số lượng đáng kể những cuộc gặp gỡ mặt đối mặt với nhân viên quản lý và phần còn lại của nhóm để lĩnh hội đủ các vấn đề có thể bị thất lạc do điện thoại.

 

Một số người khuyên rằng các nhân viên quản lý nên thiết lập các cuộc meeting bằng điện thoại “một – một” với mức độ thường xuyên – không cho mục đích quản lý sự hiện diện mà để bảo đảm sự quan tâm về việc quản lý từ xa được bộc lộ. Những cuộc meeting, mặt đối mặt hoặc trên điện thoại, cho phép các nhà quản lý có cơ hội kết nối với những người làm việc từ xa của mình bên cạnh đó còn có thể nhận được nhiều thông tin phản hồi và các vấn đề có giá trị khác.

 

7. Các công cụ và công nghệ tạo sự khác biệt lớn

 

Thật thú vị, công nghệ không phải là hàng rào chắn khi nói đến telecommuting. Trong thực tế, nó lại là những gì cho phép các nhân viên có thể làm việc tại nhà (ngoại từ khi không có mạng và máy chủ). Bất cứ người nào có một kết nối Internet (đôi khi có thể là một VPN) cũng đều có thể thực hiện tốt công việc của họ. Tuy nhiên nếu bạn muốn các nhân viên làm việc từ xa của mình thành công, bạn cần phải cung cấp cho họ một số công cụ cần thiết và bảo đảm rằng họ được tích hợp vào các luồng công việc của doanh nghiệp.

 

Tập các công cụ tối thiểu cho các nhân viên làm việc từ xa gồm:

 

* Điện thoại văn phòng tốt với tính năng voice-mail để chuyển tiếp các cuộc gọi đến từ bàn làm việc đến nhà riêng.

* Một kết nối Internet nhanh và có độ tin cậy cao

* Truy cập VPN vào mạng công ty

* Một mạng nội bộ cho phép truy cập các thông tin cần thiết cho các công việc hàng ngày.

* Các công cụ hội thảo từ xa

* Các công cụ chia sẻ trình diễn

* Các ứng dụng làm việc từ xa

*  (IM) client

 

IM chính là một công cụ hữu dụng cho các nhân viên làm việc từ xa và những người quản lý của họ. Nó có thể giúp cho những người làm việc từ xa kết nối được với văn phòng và những nhân viên ngang hàng với họ. Ưu điểm của IM còn cho phép các nhân viên làm việc part-time hiện hữu thường xuyên hơn, chính vì vậy những người quản lý các nhân viên làm việc part-time đó thấy được các nhân viên của họ nhiều hơn, tạo được sự gần gũi trong công việc hơn.

 

Khi bạn thiết lập một VPN và phần mềm công ty khác, hãy bảo đảm rằng nó có thể làm việc với cả hệ điều hành khác ngoài Windows. Thậm chí nếu công ty bạn là một cửa hàng của Microsoft, cần phải bảo đảm cho những người làm việc từ xa – đặc biệt những người yêu cầu sử dụng máy tính cá nhân của họ – có thể sử dụng bất cứ hệ điều hành nào mà họ ưa thích. Điều này yêu cầu công ty cần phải mua các đăng ký VPN thêm cho hỗ trợ này.

 

Tuy nhiên việc chỉ ra phần mềm và các dịch vụ một nhóm nào đó cần không phải lúc nào cũng là một nhiệm vụ dễ dàng. Quả thực thứ lớn nhất phải đối mặt là phải tìm ra các công cụ và các không gian để chia sẻ và cộng tác.

 

Bên cạnh đó bộ phận hỗ trợ CNTT của doanh nghiệp cũng cần phải hỗ trợ tích cực cho những người làm việc từ xa. Phải coi những người làm việc từ xa như một phần của cơ sở hạ tầng và sự hỗ trợ công nghệ cho các nhân viên này cần ngang bằng với các nhân viên trong văn phòng. Để telecommuting đạt được thành công, bạn cần phải có việc kiểm tra giám sát chặt chẽ.

 

Telecommuting mang đến nhiều lợi ích đáng kể cho nhiều người, với khả năng linh hoạt tuyệt vời và sức mạnh trên khả năng lập lịch biểu của chúng . Nó trợ giúp rất nhiều cho các doanh nghiệp để có thể thuê đúng người cho công việc mà không cần quan tâm đến vị trí địa lý hay giờ cao điểm. Mặc dù vậy, cũng như nhiều loại hình làm việc khác, để tăng được lợi ích, các nhà quản lý CNTT phải học được các kỹ năng mới, thiết lập các kiểu làm việc mới và mở rộng sự hiểu biết của họ về năng suất lao động của các nhân viên.

(Nguồn Quản Trị Mạng)

Advertisements

Mơ ước của Bạn

11.01.2011

i cũng có quyền mơ ước. Dù cuộc sống thế nào hãy cứ mơ ước đi… Khi không thể như thế thì cuộc sống của Bạn mới thực sự đen tối ! Bởi vì suối nguồn cuộc sống không hẳn là Bạn đã có gì mà là sống động trong sâu thẳm tâm thức, tâm hồn Bạn vẫn có thể trào dâng lên những mơ ước…Sự thật về tương lai của Bạn và ý nghĩa hay ho của Mơ ước chính là ở chỗ Bạn còn mơ ước…

Khi ngày xưa con người còn sống trong thời kì Nguyên Thủy, chưa hơn động vật là mấy. Lúc ấy chưa thể có mơ ước đâu, mà chỉ cựa quậy cái gì đó : mình phải hơn động vật khác và hơn đồng loại về sức mạnh sinh tồn. Nhưng khi đã hình thành nên Xã hội (với những cách tổ chức cơ bản ra đời : kinh tế, cộng đồng, chính quyền) thì mặc nhiên mỗi con người không chỉ là con người cá nhân, mà đã hình thành nên con người gia đình và con người xã hội.

Mỗi con người lúc này đã bị cài vào trong Não ( Tư duy, Ý thức , Tâm thức ) 3 ‘Gen Nhân Sinh’ : Vị Kỉ ( mưu cầu ) + Lo Sợ ( ám ảnh ) + Co Giảm ( tư thủ ) – ngoài những Gen thuần túy sinh học . Vì vậy không một ai có thể sống thuần túy theo ý mình nữa, mỗi người quá hữu hạn trong vòng cương tỏa dày đặc của những khuôn khổ bị chi phối, buộc tham gia tranh đấu, phải cố mà vươn lên…cho ‘điều hơn’ có thể và tiệm cận đến như mình muốn. Vì thế con người đã mơ ước như bù vào chỗ trống của điều chưa đạt được và mong đạt được, chí ít như nguồn nhựa sống về tinh lạc quan hoặc niềm hi vọng luôn có nguy cơ bị thực tiễn phũ phàng của cuộc sống làm chai sạn hay đánh bạt đi mất vô dạng, chứ thật ra không ai đánh cắp của Bạn cả ! Vì thế Bạn nên hiểu rằng còn có thể ước mơ thì Bạn còn niềm sống…

Tôi xin kể với các Bạn chuyện nhỏ đã lâu : Mấy người chúng tôi đi điều tra xã hội học, tìm đến một gia đình chỉ có hai mẹ con. Mẹ là công nhân ở khu Công nghiệp Đồng Nai, con trai 18 tuổi thi đậu thủ khoa đại học. Họ sống trong căn nhà tồi tàn ở xa ngoại ô Sài Gòn. Vào nhà thăm, sau đôi hồi chào xã giao, tôi hỏi : chồng chị đâu? Chị rót nước mời trả lời : anh ta sau khi thấy tôi sinh nó như thế nên bỏ đi biệt âm vô tín, chưa bao giờ gặp lại và tôi cũng không cần đi tìm. Làm việc nuôi con vất vả thế, chị có niềm sống gì chứ, có cảm thấy hạnh phúc không ? Chị cười nhẹ nhàng: có chứ, tất cả là ở thằng bé con đấy. Chị chỉ tay vào con mình và chúng tôi nhìn theo – đó là cậu thanh niên 18 tuổi rồi nhưng nhỏ thó và mắc bệnh dân gọi là ‘cam tẩu mã’ – chúng tôi bước đến cháu ân cần, rồi hỏi như với người mẹ : cháu có niềm sống gì chứ, có hạnh phúc không ? Cậu trả lời bằng giọng nói khó khăn ngọng ngịu vì bệnh tật, nhưng toát lên được từ toàn bộ thân thể: có chứ, đó là mẹ cháu kia kìa ! Thật cảm động, tôi nói: cháu có thể viết cho chú vài chữ làm kỉ niệm được không ? Được ạ, cho cháu mượn cây bút và cuốn sổ.

Đưa cho cậu, đỡ nó bằng đôi chân mà viết chậm rãi nắn nót: ’Cảm ơn chú đến thăm, chúc chú thấy được những điều kì diệu’. Đón nhận lại cuốn sổ, măt tôi như rớm lệ, khẽ khàng thốt lên: Ôi ! cháu viết đẹp đến vậy !? Cậu bé thanh niên nhỏ nhẹ : có gì đâu, vì cháu hành động hợp lý mà…Quay lại người mẹ hỏi: chị ước mơ gì? Tôi khỏe để luôn lao động được, cháu luôn có niềm vui học tập và làm được những gì phù hợp. Hỏi cậu : cháu mơ ước gì ? Trả lời: Mẹ cháu luôn vui khỏe và cháu lao động được!

Một chuyện khác: tôi có lần đến nhà trao đổi công việc với một vị quan lớn lớn, cũng là có mục đích điều tra xã hội học. Có vẻ như cảm thấy thân tình qua nhiều lần gặp nên vợ chồng họ cũng không cần giữ ý câu nệ gì lắm…. Vợ pha nước nói vu vơ : cho hai đứa con chả thiếu gì để ăn học rồi vào đời mà mình cứ như là người luôn mắc nợ chúng nó í chú ạ. Ông chồng uể oải cũng vu vơ lại: tiếng là thành đạt vinh hiển thế mà nhìn đâu cũng như còn mắc nợ với bao nhiêu người ngoài xã hội kia kìa… Tôi hỏi chị : chị hạnh phúc không ? có mơ ước gì không ? Chị đang tô tô điểm điểm gì, mím miệng nói không mất đến 2 giây : ôi dào, chết cái đó từ lâu rồi! Chồng , oải người trên đi văng : tôi cho rằng hai cái đó chỉ là ý niệm cho có vẻ, nhưng nếu biết đủ sẽ hạnh phúc chăng, và tôi ước mơ cuộc sống dạy cho tôi biết đủ và cho tôi dừng lại ở đó?!

Tôi nghĩ mình không cần bình luận gì thêm với Bạn đọc nữa về những đối thoại trong hai câu chuyện nhỏ đó !

Bạn hãy cố gắng nuôi dưỡng tâm hồn mình có thể luôn còn những Niềm sống và mơ ước được nhé. Và bí quyết ở chỗ hãy tự ‘cài đặt’ lại cho mình thay đổi được ‘3 cái Gen Nhân Sinh’ ở trên như tôi nói , làm ‘mờ’ nó đi bởi hun luyện nên một tâm lý, bản lĩnh vững vàng, cùng với việc phải hàng ngày học cách chỉnh lại lối sống + hành động của mình như thế nào cho tích cực và hiệu quả. Hướng tới Ba Điều tôi đã viết : Chân là sống Thực với Mình + Thiện là sống Lành cho Mình + Mỹ là sống Đẹp bởi Mình!


Phía sau những bản báo cáo “đẹp”

11.01.2011

 

Báo cáo ở đây ldividend.jpgà báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Từ quý 3 đến cuối năm là khoảng thời gian dồn “sức nặng” hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các công ty niêm yết. Và thông thường đây cũng là thời đoạn thị trường chứng khoán sôi động nhất.

Vì vậy, không chỉ có kết quả kinh doanh của công ty tác động đến thị trường cổ phiếu mà chính thị trường cũng là nhân tố quan trọng để nhiều báo cáo trở nên “đẹp” hơn.

Báo cáo tài chính gồm các “món”: bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh. Qua các con số đó, công ty báo cáo với cổ đông về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, thay đổi tổng giá trị tài sản, các khoản đầu tư… Tựu trung, qua các món dọn lên mâm, cổ đông sẽ biết được lời lỗ của công ty trong quý mới nhất, so với khoảng thời gian tương ứng trước đó.

Trong kế toán, lời lỗ ngắn hạn trong nhiều trường hợp là thuộc về kỹ thuật (tức phương pháp tính). Dù đã cổ phần hóa, vẫn không loại trừ chuyện công ty thiết lập hai hệ thống sổ sách, một công khai, một bí mật. Có không ít báo cáo tài chính được lập ra chỉ chủ yếu để đối phó với thuế và làm hài lòng cổ đông. “Làm xiếc” với các con số không phải là không thể. Chỉ một nhóm lãnh đạo công ty và cổ đông lớn biết được thực chất. Đa số cổ đông nhỏ không có cơ hội tiếp cận với sự xác thực của các con số.

Lấy ví dụ hay gặp nhất: công ty mẹ mở công ty con rồi đưa công ty con lên sàn niêm yết. Khi “chế tạo” báo cáo tài chính, lợi nhuận đổ hết vào công ty con; chi phí thì công ty mẹ chịu cả. Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư thấy công ty con làm ăn hiệu quả thì đổ xô vào mua. Giá cổ phiếu công ty con tăng vù vù. Công ty mẹ lẳng lặng lấy khoản chênh lệch do bán cổ phiếu bù vào khoản chi phí. Mặt khác, trong cùng hệ thống, các công ty con bán lòng vòng sản phẩm cho nhau rồi ghi vào doanh thu. Để cùng lúc có thể “bắn mấy con chim”, báo cáo kết quả kinh doanh của cả “mẹ” lẫn “con” đều đẹp, với doanh thu và lãi cao.

Một khoản “lãi” lớn nữa là thặng dư do phát hành cổ phiếu tăng vốn. Chiêu bài phát hành cổdividend3.jpg phiếu tăng vốn được không ít công ty sử dụng đúng vào thời điểm thị trường tăng nhiệt. Trong khi đó, có những công ty tăng vốn theo phong trào để kiếm lợi trước mắt, chứ không có kế hoạch để sử dụng khoản thặng dư nói trên. Vốn chủ sở hữu tăng quá nhanh, lợi nhuận khó mà theo kịp. Như vậy hiệu quả sử dụng vốn của công ty giảm.

Khoản lãi đó một phần được biến báo để chi trả cho cổ đông. Đó là cái hay được gọi là “lấy mỡ nó rán nó”, lấy tiền của cổ đông trả cho cổ đông, không phản ánh thực chất hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Cái lợi ngắn hạn đã đè bẹp lợi ích dài hạn, bền vững.

Ngay báo cáo kết quả kinh doanh quý 3/2007 của một số công ty cho thấy khoản lãi quyết định đến từ kinh doanh cổ phiếu. Lãi cao chót vót, nhưng hoạt động kinh doanh chính của công ty chỉ là danh nghĩa. Cái lợi ăn xổi là điều đáng lo ngại chứ không đáng hồ hởi.

Minh bạch kế toán và minh bạch thông tin là nguyên tắc cơ bản trong hành xử, hoạt động của công ty niêm yết. Tuy nhiên, không quá lời khi nói rằng nguyên tắc bắt buộc đó vẫn còn là một “mức xà” quá cao đối với nhiều công ty ở xứ ta. Trên cái nền tranh tối tranh sáng ấy, các bản báo cáo đẹp không thực sẽ làm cho thị trường xấu thực. Vấn đề “bảo vệ lợi ích của cổ đông nhỏ” bị phớt lờ.

Ở các nước thị trường chứng khoán đã phát triển, hành vi che giấu thông tin sẽ bị phạt nặng, thậm chí đi tù. Chuyện đi tù vì che giấu thông tin của công ty niêm yết ở thị trường Việt Nam có lẽ còn ở thì tương lai, khi pháp luật chứng khoán phát triển hơn. Còn với những vi phạm bị phát hiện thời gian qua, mức phạt không mang tính răn đe. Vài chục triệu đồng tiền phạt không thấm tháp gì so với khoản lợi hàng tỉ, nhiều tỉ đồng từ chuyện làm xiếc thông tin. Làm sai để bị phạt vẫn có lợi hơn là làm đúng! Thật nghịch lý.

Nghịch lý sẽ kéo dài đến khi nào?

 

Theo: Vũ Thượng – Thanh Niên online


Quy trình kiểm toán

11.01.2011
Quy trình kiểm toán –  Bạn tham khảo quy trình kiểm toán các tổ chức tài chính- Ngân hàng này nhé:
Quy trình kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng quy định trình tự, nội dung, thủ tục tiến hành các công việc của cuộc kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng.

Quy trình ban hành phù hợp với các quy định của Luật kiểm toán nhà nước, Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, chế độ của Nhà nước và thực tiễn hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong lĩnh vực kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng.

Quy trình kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng quy định những nội dụng cụ thể theo 4 bước:

– Chuẩn bị kiểm toán;

– Thực hiện kiểm toán;

– Lập và gửi báo cáo kiểm toán;

– Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán.

Triển khai các bước như sau:

Trình tự, thủ tục tiến hành chuẩn bị kiểm toán BCTC của đơn vị là Các tổ chức tài chính – ngân hàng (sau đây viết tắt là đơn vị) được thực hiện theo các quy định tại Chương 2 của Quy trình KTNN. Quy trình này quy định cụ thể các bước sau:

Khảo sát thu thập thông tin về đơn vị được kiểm toán

Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán

Xác định trọng yếu và rủi ro được kiểm toán

Lập kế hoạch kiểm toán của đoàn kiểm toán

I. CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN

1. Khảo sát và thu thập thông tin về đơn vị được kiểm toán

1.1 Thu thập thông tin

1.1.1 Thông tin về tổ chức hoạt động của đơn vị

Tùy thuộc vào loại hình tổ chức đơn vị và số lần kiểm toán trước đó, các thông tin cần thu thập phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:

– Quá trình hình thành và hoạt động của đơn vị:

Nhằm tìm hiểu về quá trình hình thành và những thay đổi về tổ chức, mô hình, tính chất hoạt động của đơn vị.

– Mục tiêu hoạt động chủ yếu, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức:

+ Tùy thuộc vào loại hình tổ chức tài chính ngân hàng (là NHTM, NHPT, NHCS, NHNN, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm…), mục tiêu hoạt động chủ yếu là gì? chức năng, nhiệm vụ được quy định như thế nào? và cấp nào quyết định để xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi của cuộc kiểm toán phù hợp với loại hình tổ chức được kiểm toán.

+ Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, quy mô tổ chức hoạt động để xác định thời gian, nhân lực cho cuộc kiểm toán đảm bảo tiết kiệm và có hiệu quả nhất.

– Đặc thù và phương thức hoạt động:

Để tìm hiểu phạm vi, nhiệm vụ được phép hoạt động; những nghiệp vụ kinh doanh chính; các dịch vụ; qui trình nghiệp vụ; chế độ kế toán và phương pháp xử lý thông tin kế toán,…; phải tìm hiểu được những đặc thù về hoạt động của tổ chức để xác định các lợi thế hoặc bất lợi riêng có của tổ chức, từ đó xác định phương pháp kiểm toán thích hợp trong kế hoạch kiểm toán.

– Điều lệ tổ chức và hoạt động; Quy chế quản lý tài chính, tín dụng, các văn bản pháp quy khác có liên quan đến quản lý và phân cấp quản lý tài chính, kế toán, tín dụng, hoạt động;

Phải nghiên cứu kỹ các văn bản này để nắm được những đặc thù riêng có của đơn vị về cơ chế chính sách để đưa ra những chỉ đạo nhất quán trong đoàn kiểm toán ngay từ khâu lập kế hoạch tổng quát.

– Những thay đổi hiện tại hoặc sắp tới về công nghệ, loại hình, quy trình hoạt động:

Thu thập thông tin về tình hình triển khai và dự định (kế hoạch, chiến lược) triển khai của tổ chức trong việc cải tiến công nghệ, quy trình hoạt động, dịch vụ, sản phẩm mới có thể cung cấp trong tương lai. Nhằm đánh giá sơ bộ về tính hoạt động liên lục và lâu dài của tổ chức.

– Một số thuận lợi, khó khăn chủ yếu ảnh hưởng đến tình hình hoạt động  và tình hình tài chính của đơn vị.

Thông qua việc thu thập các thông tin về tình hình môi trường kinh tế- xã hội, môi trường hoạt động của tổ chức và các chính sách, luật pháp, đánh giá sơ bộ những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tình hoạt động và báo cáo tài chính của tổ chức.

– Một số chỉ tiêu chủ yếu về tình hình hoạt động trong năm được kiểm toán và một số năm trước đó (theo số báo cáo của đơn vị): Phải chi tiết theo từng loại hình đơn vị, như:

+ Đối với đơn vị được kiểm toán là các tổ chức ngân hàng:

Tổng nguồn vốn, trong đó nguồn vốn huy động; Tổng dư nợ cho vay, trong đó có chi tiết phân loại nợ, nợ xấu; Nguyên giá TSCĐ; Tổng doanh thu, thu nhập; Tổng chi phí; Tổng lợi nhuận trước thuế; Các khoản phải nộp NSNN; Số lao động bình quân; Thu nhập bình quân người/ tháng…

+ Đối với các tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

Tổng nguồn vốn kinh doanh, trong đó chi tiết nguồn vốn nhà nước, nguồn khác; Nguyên giá TSCĐ; Thu phí bảo hiểm gốc, trong đó phí bảo hiểm gốc giữ lại; Doanh thu hoạt động tài chính, doanh thu khác; Chi phí bồi thường, chi phí hoạt động môi giới; Chi phí quản lý, bán hàng; Chi phí hoạt động tài chính; Chi phí về trích lập dự phòng,…

1.1.2  Các thông  tin về hệ thống kiểm soát nội bộ

– Các nhân tố kiểm soát chung như: Môi trường luật pháp quy định đối với tổ chức được kiểm toán, các chính sách, quy chế, cơ chế quản lý kinh doanh, quản lý tài chính- kế toán và tín dụng; các quy định về quy trình nghiệp vụ… mà đơn vị đang thực hiện. (Ngoài ra, cần thu thập các văn bản có liên quan và nghiên cứu kỹ từng văn bản để xác định  những nội dung cơ bản, đặc thù của mỗi văn bản).

– Bộ máy kiểm soát nội bộ:

+ Cơ cấu tổ chức bộ máy và tổ chức kinh doanh, hoạt động, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận;

Nghiên cứu điều lệ tổ chức hoạt động và các  văn bản phân cấp trong nội bộ của đơn vị được kiểm toán để xác định được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, từ đó có kế hoạch, phương pháp, biện pháp chỉ đạo đoàn kiểm toán kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của từng bộ phận (tốt, chưa tốt, không tốt, không đúng thẩm quyền: vượt hoặc chưa hết trách nhiệm,…), đánh giá tính phù hợp , hiệu lực, hiệu quả của các quy chế nội bộ.

+ Tổ chức công tác kế toán (tập trung hay phân tán; cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán, hệ thống công nghệ ứng dụng trong công tác kế toán):

+ Hệ thống chứng từ kế toán (chứng từ bắt buộc, chứng từ do đơn vị tự quy định hoặc tự in);

+ Hệ thống tài khoản kế toán (theo hệ thống tài khoản kế toán nào; việc quy định chi tiết về hệ thống tài khoản kế toán có tính chất đặc thù…);

+ Hệ thống sổ kế toán: Theo hình thức kế toán nào (Nhật ký chứng từ, Nhật ký chung, chứng từ ghi sổ….)

+ Hệ thống báo cáo tài chính;

+ Chính sách kế toán đơn vị áp dụng: Phương pháp kế toán tiền mặt hay dồn tích; phân bổ chi phí; phương pháp khấu hao; trích lập và xử lý dự phòng, …

+ Việc chỉ đạo và kiểm tra công tác tài chính – kế toán.

– Hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin, công nghệ ứng dụng trong việc xử lý, quản lý các dịch vụ, hoạt động:

Tìm hiểu các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu hoạt động và tạo lập BCTC bao gồm: Quá trình tạo lập, kiểm soát, phê duyệt, chia sẻ, lưu trữ, tiếp cận,… thông tin của tổ chức (hoạt động của các tổ chức tài chính ngân hàng có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin rất rộng rãi, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu giao dịch, khách hàng,… )

– Tổ chức và hoạt động của bộ máy kiểm toán nội bộ (nếu có bộ phận kiểm toán nội bộ). Cần thu thập các thông tin sau:

+ Các quy định về tổ chức, nhân sự, các quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn, thủ tục (cẩm nang) hoạt động của kiểm toán nội bộ;

+ Các kết quả (báo cáo, biên bản, phát hiện,…) của kiểm toán nội bộ trong niên độ được kiểm toán và những năm gần nhất.

+ Cần nghiên cứu các văn bản này để xác định  vai trò, vị trí của kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức của đơn vị; đánh giá sự quan tâm của người đứng đầu đơn vị đối với bộ phận kiểm toán nội bộ; xác định tính độc lập, khách quan của kiểm toán nội bộ; chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ; Tìm hiểu năng lực chuyên môn của kiểm toán viên nội bộ cũng như những hoạt động và hiệu quả hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ,…

1.2 Phương pháp thu thập thông tin

– Nghiên cứu các hồ sơ kiểm toán trước đó (các năm trước)

– Đề nghị tổ chức cung cấp bằng văn bản (hoặc files mềm) về KTNN;

– Trực tiếp tiếp xúc, phỏng vấn, trao đổi với các nhà quản lý, các cán bộ có trách nhiệm của tỏ chức đơn vị.

– Trực tiếp đến quan sát quá trình hoạt động kinh doanh tại Hội sở chính và một số đơn vị, chi nhánh trực thuộc.

Cần đi sâu tìm hiểu thực tế: việc vận hành hoạt động kinh doanh; Phân cấp quản lý kinh doanh và chi tiêu tài chính; Việc thực hiện các hoạt động theo chỉ đạo của Hội sở chính có gì tồn tại, vướng mắc; Mức độ quản lý tập trung công việc…

– Thông qua các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành, Hiệp hội…

– Thông qua các kênh thông tin khác như mạng Internet, báo chí,…

1.3. Những vấn đề khác cần lưu ý

– Các phát hiện chủ yếu của kiểm toán (KTNN, kiểm toán độc lập, và kiểm toán nội bộ) và thanh tra kiểm tra từ bên ngoài

– Vấn đề đã được thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng trong năm  tài chính gần nhất

– Những vấn đề cần chú ý trong hoạt động và quản lý tài chính, kế toán của tổ chức thông qua các thông tin khác (báo chí, tố cáo,…)

2. Đánh giá ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ

Sau khi đã phân loại thông tin thu thập được, tiến hành nhận xét, đánh giá sơ bộ và rút ra các ý kiến về mức độ tin cậy của hệ thống KSNB bao gồm các nội dung sau:

– Tính đầy đủ và hiệu lực của bộ máy KSNB;

– Tính đầy đủ và hiệu lực của những quy trình KSNB cụ thể;

– Hoạt động của bộ máy kiểm soát nội bộ;

– Những hạn chế của hệ thống KSNB.

3. Xác định trọng yếu và rủi ro kiểm toán

3.1 Trọng yếu kiểm toán

Thông qua các thông tin, số liệu về đơn vị, đánh giá và xác định sơ bộ về những vấn đề trọng yếu của cuộc kiểm toán nhằm xác định nội dung, phạm vi kiểm toán phù hợp. Đánh giá sơ bộ về mức độ trọng yếu, các khoản mục trong BCTC có thể phải điều chỉnh…

3.2 Rủi ro kiểm toán

– Xác định các loại rủi ro liên quan đến hoạt động và báo cáo tài chính của tổ chức: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro kiểm toán

– Đánh giá về rủi ro: Mức độ rủi ro: cao, trung bình, thấp

4. Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể

4.1 Xác định mục tiêu kiểm toán

Tùy theo từng loại hình đối tượng kiểm toán và định hướng mục tiêu kiểm toán năm của KTNN đối với lĩnh vực đơn vị để cụ thể hoá mục tiêu kiểm toán đối với đơn vị được kiểm toán.

4.1.1 Mục tiêu chung:

– Xác nhận tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của các số liệu, tài liệu, BCTC trong phạm vi kiểm toán.

– Đánh giá tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, sử dụng tài sản, vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

– Kiến nghị thích hợp với các đơn vị được kiểm toán để khắc phục, sửa chữa sai sót, vi phạm để chấn chỉnh công tác quản lý kinh tế, công tác kế toán, tín dụng… với các cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm, sửa đổi, bổ sung, cải tién chế độ quản lý kinh tế, tài chính, tín dụng…

4.1.2 Mục tiêu cụ thể:

Tùy thuộc vào tính chất, mục tiêu hoạt động chung của tổ chức, tình hình hoạt động của tổ chức trong năm được kiểm toán, kết quả kiểm toán những năm trước đó để xác định các mục tiêu kiểm toán cụ thể đối với từng loại hình kiểm toán và từng đơn vị cụ thể.

+ Các ngân hàng thương mại;

+ Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển;

+ Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng trung ương);

+ Các Quỹ tài chính tập trung (ngoài NSNN), như: Bảo hiểm xã hội, các Quỹ tài chính chuyên ngành;

+ Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm;

+ Các công ty tài chính phi ngân hàng khác,…

4.2 Nội dung kiểm toán

4.2.1  Đối với kiểm toán tài chính

– Kiểm toán tài sản, nguồn vốn;

– Kiểm toán thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh (hay chênh lệch thu-chi);

– Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành hoặc hạng mục công trình (nếu có);

– Kiểm toán việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

4.2.2  Đối với kiểm toán tuân thủ:

Kiểm toán việc tuân thủ, chấp hành pháp luật; chính sách, chế độ quản lý tài chính, kế toán, tín dụng của đơn vị được kiểm toán

4.2.3  Đối với kiểm toán hoạt động

Tùy theo từng loại hình tổ chức, đặc điểm hoạt động và năng lực của Đoàn kiểm toán được thành lập, đưa vào nội dung kiểm toán các hoạt động của tổ chức như: Kiểm toán hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (theo từng nghiệp vụ cụ thể),…

4.3 Phạm vi và giới hạn kiểm toán

Từ mục tiêu kiểm toán nêu trên mà dự kiến phạm vi và giới hạn kiểm toán cho phù hợp, đảm bảo cho mẫu chọn kiểm toán đại diện được đầy đủ các tính chất và đặc điểm cho tổng thể; để từ mẫu chọn này có thể rút ra nhận xét đánh giá sát đúng và phù hợp nhất.

4.3.1  Phạm vi kiểm toán

– Phạm vi kiểm toán: nêu những lĩnh vực hoạt động cần phải kiểm toán; danh sách các đơn vị được kiểm toán; quy mô, tỷ trọng các chỉ tiêu tài chính chủ yếu được kiểm toán so với tổng thể của đơn vị được kiểm toán;

– Danh sách các đơn vị được kiểm toán;

– Năm tài chính được kiểm toán.

4.3.2  Giới hạn kiểm toán

Nêu những giới hạn kiểm toán không thực hiện được bởi những lý do khách quan.

4.4 Phư­ơng pháp kiểm toán đối với từng nội dung cụ thể trên báo cáo tài chính đối với từng loại hình tổ chức

Trên cơ sở đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán, đánh giá mức độ sai sót có thể chấp nhận được của từng nội dung cần kiểm toán, từ đó đưa ra phương pháp kiểm toán để tiến hành kiểm toán phù hợp với việc đánh giá tính trọng yếu và mức độ sai sót nhằm hạn chế mức thấp nhất những rủi ro có thể gặp phải.

– Ứng dụng phương pháp kiểm toán kiểm toán cơ bản: sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của số liệu, tài liệu kế toán, những nghiệp vụ không thường xuyên và các ước tính kế toán. Phương pháp này thực hiện thông qua áp dụng hai loại kỹ thuật kiểm toán cơ bản là phân tích và kiểm tra chi tiết;

– Ứng dụng phương pháp kiểm toán tuân thủ: áp dụng với kiểm toán các loại nghiệp vụ thường xuyên. Phương pháp này được tiến hành bằng cách kết hợp giữa hai loại kỹ thuật kiểm toán: Kiểm tra hệ thống và thử nghiệm chi tiết đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.

4.5 Kế hoạch nguồn nhân lực, thời gian, địa điểm kiểm toán

– Xác định địa điểm, thời gian cần thiết cho cuộc kiểm toán là số ngày theo lịch (thời gian thực hiện kiểm toán tại hiện trường, thời gian lập báo cáo, thời gian xét duyệt và phát hành báo cáo kiểm toán);

– Tổ chức Đoàn kiểm toán:

+ Xác định bổ nhiệm trưởng đoàn, phó đoàn, số Tổ (nhóm) kiểm toán và số lượng, cơ cấu kiểm toán viên (kèm theo);

+ Bố trí nhân sự, địa điểm, thời gian cho từng tổ kiểm toán.

4.6 Tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho KTV và thu thập các tài liệu luật pháp, quy định có liên quan.

– Tổ chức cho các KTV được nghiên cứu kỹ các qui chế áp dụng đối với các đơn vị được kiểm toán; Tổ chức các báo cáo viên báo cáo thực tế về đối tượng kiểm toán như: kinh nghiệm về quản lý, kế toán chuyên ngành, kiểm toán, phân tích hoạt động kinh tế, các chính sách, cơ chế, chế độ chung và đặc thù của đối tượng kiểm toán… của các chuyên gia trong và ngoài ngành, trong nước và quốc tế.

– Phổ biến để thảo luận nhằm quán triệt kế hoạch kiểm toán của đoàn, bao gồm: những nội dung cụ thể của cuộc kiểm toán, yêu cầu về mục đích,  nội dung, phạm vi và thời gian của cuộc kiểm toán, tổ chức của đoàn kiểm toán. Kiểm toán viên cần chọn cách thức tiến hành công việc một cách phù hợp, ảnh hưởng ít nhất đến hoạt động kinh doanh bình thường của đơn vị được kiểm toán.

4.7 Kinh phí kiểm toán và các điều kiện vật chất khác

– Xác định kính kinh phí cụ thể cho từng tổ kiểm toán và tổng hợp chung của cả đoàn gồm: tiền tàu xe, tiền lưu trú, tiền thuê chỗ nghỉ …

– Các điều kiện vật chất khác (xe ô tô, máy tính, văn phòng phẩm…) phục vụ cho cuộc kiểm toán, kể cả chi phí dự kiến thuê tư vấn chuyên gia (nếu có).

4.8 Tổ chức thông báo kế hoạch kiểm toán

Trước khi tiến hành kiểm toán tại đơn vị, đại diện Lãnh đạo KTNN, Đoàn kiểm toán tổ chức buổi làm việc với cơ quan chủ quản, hay cấp trên của tổ chức được kiểm toán để có sự thống nhất, phối hợp chỉ đạo  thực hiện (nếu cần thiết); Tổ chức cuộc họp với lãnh đạo và các cán bộ chủ chốt của đơn vị được kiểm toán, để thông báo kế hoạch kiểm toán và thống nhất với lãnh đạo đơn vị về những vấn đề liên quan đến công việc của Đoàn kiểm toán trong thời gian kiểm toán tại đơn vị

II. THỰC HIỆN KIỂM TOÁN

Trình tự, thủ tục các bước thực hiện kiểm toán các đơn vị là các tổ chức tài chính, ngân hàng được thực hiện theo các quy định tại chương 3 Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Quy trình này quy định cụ thể những nội dung liên quan đến việc kiểm toán các tổ chức tài chính, ngân hàng: Kiểm toán xác nhận tính đúng đắn, trung thực về tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh;

Kiểm toán việc chấp hành chế độ, chính sách tài chính, kế toán, tín dụng;

Kiểm toán hoạt động đầu tư tài chính, tín dụng, liên doanh liên kết;

Kiểm toán tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của các hoạt động của các tổ chức tài chính – ngân hàng như việc ban hành các chính sách tiền tiền tệ, tín dụng (đối với đơn vị nhà nước).

Trước khi thực hiện kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán lập kế hoạch kiểm toán chi tiết theo quy định tại điểm 2.2 mục 2 chương 3 Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Khi lập kế hoạch kiểm toán chi tiết cần lưu ý một số vấn đề sau:

+ Tuân thủ và nhất quán với Kế hoạch không kiểm toán những vấn đề đã giới hạn trong kế hoạch tổng quát;

+ Đặc thù về kinh doanh và phương thức hoạt động: căn cứ vào địa bàn hoạt động, quy mô, tổ chức và năng lực của mỗi đơn vị thành viên, Ban lãnh đạo của tổ chức tài chính, ngân hàng phân cấp về tổ chức, hoạt động cho đơn vị thành viên. Do đó, KTV cần phải xem xét những đặc thù của đơn vị được kiểm toán để xác định những trọng yếu rủi và ro ngay từ khi lập kế hoạch kiểm toán chi tiết;

+ Các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội và các doanh nghiệp bảo hiểm thường có các đơn vị phụ thuộc được phân cấp về công tác tài chính, kế toán, tín dụng, do vậy khi lập kế hoạch chi tiết cần chọn mẫu từ hội sở chính của Chi nhánh, Công ty  đến các đơn vị trực thuộc là các Chi nhánh cấp dưới, phòng giao dịch, phòng kinh doanh để kiểm toán đảm bảo phù hợp về tỷ trọng một số chỉ tiêu chủ yếu, cụ thể:

Nêu một số chỉ tiêu chủ yếu của các đơn vị phụ thuộc đ­ược kiểm toán phù hợp với mục tiêu của cuộc kiểm toán như sau:

T Tên đơn vị NTài sản cố định Nguồn

vốn

huy động (đối với các NH)

D­ư nợ cho vay (đối với các NH) Tổng Doanh thu, thu nhập khác Tổng

chi phí

Tổng lợi nhuận kế toán tr­ước thuế Thuế và các khoản phải nộp NSNN ……
1 Văn phòng …                
2 Chi nhánh (phòng giao dịch, phòng kinh doanh) A                
  ….                
  Tổng cộng                
  Tỷ trọng/tổng số (%)                

1 Những vấn đề có tính nguyên tắc khi thực hiện kiểm toán các tổ chức tài chính, ngân hàng

Khi thực hiện kiểm toán, KTV cần phải tuân thủ một số vấn đề có tính nguyên tắc dưới đây:

1.1 Tính có thật về sự tồn tại các khoản mục BCTC cũng như các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ.

Sự tồn tại hoặc phát sinh về việc lập BCTC, đơn vị đã đưa vào BCTC các số liệu (số dư cuối kỳ) có theo đúng số liệu đã hạch toán trên sổ kế toán không? Những xác nhận của KTV đề cập đến các chỉ tiêu về tài sản Nợ, tài sản Có trong bảng cân đối kế toán có thực sự có vào ngày lập báo cáo hay không? Xác nhận số liệu các khoản thu, chi trong báo cáo thu nhập và chi phí có thực sự phát sinh trong kỳ kế toán hay không? KTV phải thu thập bằng chứng, để khẳng định rằng các nghiệp vụ được hạch toán đúng bản chất kinh tế, kịp thời, theo đúng niên độ tài chính, đảm bảo BCTC đưa ra bức tranh trung thực về thực trạng tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh của đơn vị được kiểm toán trong một thời kỳ nhất định.

Để kiểm tra hạch toán đúng kỳ, KTV nên kiểm tra một số nghiệp vụ phát sinh ngay trước hoặc sau ngày quyết toán, đối chiếu sự khớp đúng giữa các chứng từ có liên quan tới nghiệp vụ, để khẳng định rằng các nghiệp vụ này được hạch toán đúng kỳ. Đối với các tài sản như tiền mặt, ngân phiếu thanh toán, các khoản tiền gửi và đầu tư chứng khoán tại NHNN, vật liêu tồn kho … có thể kiểm toán thông qua kiểm kê thực tế, kết hợp với đối chiếu số liệu đã được vào sổ kế toán với các chứng từ kế toán, kết hợp với việc lấy xác nhận của các bên có liên quan. Đối với các khoản phải thu thì kết hợp giữa việc lấy xác nhận của các bên có liên quan. Đối với tài sản vô hình, KTV phải thu thập được bằng chứng về chi phí thực tế đã chi…

1.2. Quyền sở hữu và nghĩa vụ

Những xác nhận của KTV đề cập đến việc tài sản được phản ánh trên BCTC có thuộc quyền sở hữu của đơn vị hay không? Các khoản nợ có phải là nghĩa vụ của đơn vị vào ngày lập báo cáo hay không? Thông thường, quy trình kiểm toán cũng được áp dụng giống như đối với cơ sở dữ liệu về sự tồn tại, ví dụ, lấy xác nhận của NHNN cho bằng chứng về sự tồn tại của tiền gửi tại NHNN, đồng thời cũng cho bằng chứng về quyền sở hữu của đơn vị đối với số tiền gửi đó …

Tuy nhiên, đối với một số tài sản khác như máy móc thiết bị…, việc kiểm kê thực tế chưa cho phép có được bằng chứng về quyền sở hữu, thông qua việc kiểm tra hồ sơ lưu trữ, các chứng từ kế toán của các nghiệp vụ kinh tế, dẫn tới sự hình thành tài sản như hoá đơn mua hàng, hoặc các hợp đồng kinh tế, hợp đồng đối với tài sản thuê tài chính… thì mới có được ý kiến về quyền sở hữu, quyền sử dụng… của tài sản đó.

1.3. Xác nhận sự đầy đủ

Các xác nhận của KTV cần nêu rõ: tất cả các nghiệp vụ kinh tế và các số dư  tài khoản kế toán phải được phản ánh trên BCTC và được phản ánh trong hệ thống sổ kế toán. Tính đầy đủ nói về khả năng bỏ qua các khoản mục, đáng lý ra phải đưa vào trong BCTC. Một hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả sẽ đảm bảo rằng: mọi nghiệp vụ đều được ghi nhận và phản ánh trong hệ thống tài khoản, sổ kế toán, BCTC. Nếu đánh giá của KTV qua các thử nghiệm về kiểm soát cho thấy sự yếu kém, không hiệu quả thì KTV phải tăng quy mô của thử nghiệm cơ bản. Tiến trình của các bước kiểm toán bắt đầu từ các chứng từ gốc, trên cơ sở chọn mẫu, sau đó kiểm tra dựa vào sổ kế toán chi tiết có liên quan, sổ kế toán tổng hợp và BCTC. KTV thực hiện kiểm tra thực tế, sau đó so sánh số liệu kiểm tra thực tế với số liệu kế toán, cho ta bằng chứng về sự đầy đủ của tài sản, phát hiện ra các tài sản chưa được ghi chép, theo dõi trong hệ thống kế toán. Phương pháp phân tích cũng rất hữu ích để chỉ ra khả năng có tài sản chưa được ghi nhận hoặc còn tồn tại các sai sót nghiêm trọng.

1.4 Tính đúng đắn về thời gian của nghiệp vụ phát sinh

– KTV phải có sự xem xét BCTC của kỳ trước để xác định sự hợp lý của số dư đầu kỳ kết chuyển sang để bảo đảm rằng các nghiệp vụ phát sinh tăng giảm trong kỳ đơn vị không có sự nhầm lẫn hoặc cố ý hạch toán trùng lắp các nghiệp vụ từ kỳ trước chuyển sang.

– KTV phải xem xét các nghiệp vụ phát sinh của những tháng đầu năm của niên độ kế toán sau để bảo đảm rằng các nghiệp vụ này không bị hạch toán nhầm lẫn hoặc cố ý từ kỳ trước sang kỳ này hoặc ngược lại.

– Các khoản doanh thu, thu nhập và các khoản chi phí nếu không tuân thủ nguyên tắc phù hợp trong kỳ kế toán sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh và báo cáo kết quả kinh doanh. KTV phải kiểm tra sự tương thích, hạch toán đúng kỳ đối với các khoản doanh thu, thu nhập và chi phí quan trọng.

1.5 Việc phân loại đúng đắn khi hạch toán

– Trong chế độ kế toán hiện hành yêu cầu đơn vị khi hạch toán các nghiệp vụ phát sinh phải phù hợp với các tài khoản đã đăng ký mở theo quy định. Thu nhập, chi phí phát sinh ở khâu nào, lĩnh vực nào thì phải hạch toán vào tài khoản tương ứng.

– Các nghiệp vụ phát sinh tăng, giảm tài sản, nguồn vốn phải được hạch toán vào các tài khoản tương ứng theo quy định. Tuyệt đối không bù trừ công nợ, không hạch toán từ tài sản này sang tài sản khác, từ nguồn vốn nọ sang nguồn vốn kia.

– KTV phải kiểm tra tính đúng đắn việc phân loại các nghiệp vụ phát sinh của đơn vị. Trường hợp đơn vị không thực hiện đúng phân loại cần nêu rõ những ảnh hưởng của việc hạch toán sai này đối với những khoản mục của BCTC.

1.6 Đánh giá tài sản và sự phân bổ

Chất lượng tài sản là một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến sự lành mạnh của một đơn vị, đây là một tiêu chuẩn khó đánh giá. Các nguyên tắc kế toán chung cũng đòi hỏi giá trị của tài sản cần phải được đánh giá, và có dự phòng trước đối với các khoản giảm giá, những khoản nợ khó đòi. Lập quĩ dự phòng nợ phải thu khó đòi phải được thực hiện trên cơ sở đánh giá đối với từng khoản nợ, các đơn vị phải áp dụng nguyên tắc trích lập dự phòng rủi ro một cách thận trọng.

KTV phải kiểm tra để khẳng định rằng: phương pháp định giá mà đơn vị áp dụng là phù hợp với loại tài sản, phù hợp với các chuẩn mực kế toán được chấp nhận và tuân thủ quy định của Nhà nước; Đồng thời phải kiểm tra tính chính xác về giá trị (số tiền) theo phương pháp đã sử dụng. Số liệu được thể hiện trên các BCTC, chính là sự tổng hợp của rất nhiều khoản mục, do vậy KTV phải kiểm tra lại sự chính xác về mặt số học.

Các loại tài sản được đánh giá theo giá thực tế, do vậy, KTV phải tiến hành kiểm tra chi phí phát sinh để có được giá trị hợp lý của tài sản thông qua việc kiểm tra các chứng từ gốc về chi phí.

KTV phải kiểm tra kỹ các khoản tài sản Có, việc giảm giá nếu có, có hợp lý hay không? Việc đánh giá, dự kiến giá có thể bán được trong tương lai như thế nào? Khả năng thu hồi nợ cho vay đã quá hạn ?… Sau đó kiểm tra việc lập các khoản dự phòng đã tuân thủ chế độ tài chính kế toán chưa ?

1.7 Sự trình bày trên BCTC

Những xác nhận của KTV phải đề cập đến việc: các chỉ tiêu trên BCTC có được trình bày đầy đủ và đúng đắn theo mẫu quy định của NHNN và Bộ Tài chính hay không? (lưu ý khi nhận xét việc lập BCTC hợp nhất của các ngân hàng thương mại, tập đoàn tài chính).

2. Nội dung kiểm toán các đơn vị là các tổ chức tài chính, ngân hàng

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV cần chú ý kiểm tra trước một số vấn đề sau:

2.1 Chế độ mở sổ và sử dụng tài khoản kế toán

KTV cần nắm vững tính chất, nội dung các tài khoản kế toán của hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tài chính, ngân hàng do cơ quan có thẩm quyền ban hành, để đối chiếu với hệ thống tài khoản kế toán do các đơn vị được kiểm toán lựa chọn, đăng ký, nhằm xác định xem hệ thống tài khoản kế toán do đơn vị sử dụng có phù hợp với qui định chung không. Sau đó, đối chiếu với các tài khoản mà đơn vị đã mở và sử dụng để phát hiện những trường hợp mở sai và hạch toán sai.

2.2 Kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp

KTV cần kiểm tra qui trình hạch toán và việc mở các loại sổ kế toán, có theo đúng qui định trong chế độ kế toán hay không (đặc biệt đối với các đơn vị việc hạch toán kế toán được thực hiện bằng phần mềm tin học). Để kiểm tra sự chính xác của số liệu kế toán, cần đối chiếu số liệu giữa hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp, giữa báo cáo chi tiết và báo cáo tổng hợp, giữa bản sao kê kiểm kê với số dư trên Bảng cân đối kế toán; Căn cứ vào các qui định về nghiệp vụ và thủ tục kế toán của từng loại nghiệp vụ cụ thể như: kế toán cho vay, kế toán thanh toán, kế toán tài sản, kế toán thu, chi tài chính để đối chiếu, kiểm tra việc xử lý của đơn vị trong khi hạch toán kế toán vào các tài khoản.

Chú ý kiểm tra sự chính xác giữa chứng từ ghi sổ để phát hiện các trường hợp thừa, thiếu chứng từ, độ chính xác của số liệu; Kiểm tra cân đối chi tiết từng ngày để phát hiện các tài khoản hạch toán sai tính chất như tài khoản tiền gửi dư nợ, tiền vay dư có…; kiểm tra các lý do, nội dung và phương pháp điều chỉnh bút toán.

2.3 Chế độ chứng từ kế toán đơn vị

Chứng từ kế toán đơn vị gồm: chứng từ do khách hàng lập, chứng từ do đơn vị lập và chứng từ thanh toán điện tử . KTV cần kiểm tra, để phát hiện các chứng từ không hợp lý, hợp lệ, hợp pháp. Chứng từ đảm bảo tính hợp lý, hợp lệ, hợp pháp phải đảm bảo các điều kiện như: đúng mẫu qui định; Các yếu tố trên chứng từ phải ghi đầy đủ, đúng qui định, không tẩy xoá. Riêng chứng từ chi tiêu nội bộ của đơn vị, phải có chứng từ gốc kèm theo. Các khoản mua vật tư, hàng hoá, dịch vụ phải có hoá đơn theo qui định của Bộ Tài chính. Chữ ký trên chứng từ của người thực hiện nghiệp vụ, người kiểm tra. Việc kiểm tra chứng từ phải trên cơ sở mẫu kiểm toán đã xác định.

3. Kiểm toán tài sản và nguồn vốn

3.1. Kiểm toán các tài khoản tiền

3.1.1 Mục đích kiểm toán

– Nhằm xác định rằng số dư đã được báo cáo là hợp lý và đúng đắn, số tiền còn lại là có thực và đầy đủ; Số dư các khoản tiền mặt, tiền gửi trong suốt quá trình hoạt động có trong phạm vi định mức tồn quỹ của cấp trên quy định không và có đảm bảo phù hợp cho hoạt động của đơn vị không? Các khoản thu, chi tiền mặt, tiền gửi có hợp lý, hợp lệ và đúng đắn không.

– Đảm bảo rằng vàng, kim loại quí thực sự có vào ngày lập báo cáo và thuộc sở hữu của đơn vị, được định giá đúng, phù hợp các qui định của Nhà nước.

3.1.2 Nội dung kiểm toán

Các tài khoản trong mục này gồm: tiền mặt (cả VNĐ và ngoại tệ), ngân phiếu thanh toán, các chứng từ có giá trị ngoại tệ và kim loại quí, đá quí; Các khoản tiền gửi tại NHNN; Tiền, vàng gửi và cho vay TCTD khác. Kiểm toán các tài khoản tiền là việc xem xét tính trung thực, đầy đủ của số liệu cũng như việc thực hiện  các biện pháp an toàn đối với các khoản tiền hiện đang có ở đơn vị như: Chấp hành chế độ quản lý kho quĩ, việc điều chuyển tiền, hàng đặc biệt, chấp hành các chế độ ghi chép, hạch toán, báo cáo…

3.1.3 Phương pháp kiểm toán

Khi kiểm toán các tài khoản tiền, KTV phải xem xét tính hữu hiệu của hệ thống KSNB để đánh giá các rủi ro. Rủi ro kiểm toán thường là số dư các tài khoản trong BCTC bị ghi giảm đi, hoặc có thể được ghi tăng lên; Đối với ngoại tệ là các số dư cuối kỳ được chuyển đổi sang đồng Việt Nam một cách không đúng (quy đổi sai tỷ giá hối đoái)…

– Kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa biên bản kiểm kê tiền mặt thực tế với số dư trên Bảng cân đối kế toán; Giữa tiền mặt thực tế với sổ sách kế toán; Giữa sổ nhật ký quĩ (kế toán) với sổ quĩ (thủ quĩ); Giữa sổ kế toán với báo cáo kế toán và số dư mang sang trên sổ sách kế toán. KTV có thể tiến hành kiểm kê tại thời điểm kiểm toán, rồi dùng phương pháp loại trừ để xác định số dư trên BCTC (trừ đi số tiền thu vào và cộng thêm các khoản đã chi ra tại thời điểm ghi trong bảng cân đối kế toán đến thời điểm kiểm kê, để xác định số dư tiền mặt tại quỹ có đúng với số tiền ghi trong bảng cân đối hay không). Biên bản kiểm kê quỹ phải có đầy đủ chữ ký của người chịu trách nhiệm về quỹ (thủ quĩ, kế toán, KSNB, giám đốc).

– KTV cần kiểm soát toàn bộ séc lĩnh tiền mặt đồng thời với việc kiểm kê tiền mặt. Các công việc sau đó thường liên quan đến việc so sánh tổng số chuyển tiếp với số dư sổ cái và xác định chênh lệch; Đánh giá từng khoản mục séc để xác định các khoản mục bất thường; Xác nhận tính hợp lý của việc thanh toán  hay chi dùng khác. Đối với các khoản mục bị trả lại sau khi thanh toán, KTV phải xác định nguyên nhân và việc xử lý sau đó.

– Đối với các chứng khoán (chứng từ có giá): cách tiến hành tương tự như các khoản tiền. Cần lập riêng bảng kê các loại chứng khoán có thể mua bán được, các chứng khoán giữ hộ…

– Đối với các tài khoản ngoại tệ, ngoài việc tiến hành kiểm tra như đã nêu trên, cần phải tính toán lại việc chuyển đổi sang đồng Việt Nam bằng cách kiểm tra tỷ giá hối đoái tại thời điểm ghi trong bảng cân đối.

3.2. Kiểm toán các khoản đầu tư

3.2.1 Mục đích kiểm toán

Xác định các khoản đầu tư  là có thực, thuộc sở hữu của đơn vị và có được phản ánh đúng đắn trong BCTC hay không; Thẩm tra xem danh mục chứng khoán bằng ngoại tệ có được xác định giá trị đúng hay không; Các khoản thua lỗ đã được lập dự phòng đầy đủ không; Đánh giá mức độ tuân thủ các qui định và nguyên tắc về đầu tư của NHNN.

3.2.2 Nội dung kiểm toán

Các khoản đầu tư gồm: chứng khoán kinh doanh; chứng khoán đầu tư; các công cụ tài chính phái sinh; Góp vốn đầu tư dài hạn…Kiểm toán để xác định một số vấn đề sau:

– Các khoản đầu tư có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị hay không (trừ tiền gửi).

– Tính an toàn của các khoản đầu tư, hay mức độ rủi ro của các khoản đầu tư; Việc bảo quản các chứng khoán và việc kiểm kê định kỳ.

– Xác định nguồn vốn dùng để góp vốn kinh doanh; giới hạn được phép góp vốn kinh doanh.

– Việc chấp hành các qui định của NHNN.

3.2.3 Phương pháp kiểm toán

– KTV cần liệt kê các khoản đầu tư, góp vốn. Từ đó tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu trên sổ sách kế toán, chứng từ gốc và các giấy báo Nợ, báo Có của NHNN và các tổ chức khác. Xác định tính chính xác của chi phí đã bỏ ra (chú ý đến việc hạch toán giá mua thực tế: Giá mua = giá gốc + chi phí mua vào).

– Khi đơn vị có các trái phiếu, cổ phiếu hoặc các khoản đầu tư dài hạn khác, thì  KTV phải kiểm tra thực tế các chứng khoán đó. Khi các khoản đầu tư này, do một bên thứ ba nắm giữ thì phải kiểm tra sự tồn tại của chúng, bằng cách có các xác nhận của người nắm giữ;

– Kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của từng hợp đồng góp vốn; Các điều khoản của hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng. Đối chiếu lợi nhuận hoặc tổn thất trong liên doanh (đã được xác nhận của liên doanh), kiểm tra cổ phần của đơn vị trong BCTC liên doanh có khớp đúng với số liệu phản ánh trên sổ sách của đơn vị không?

– Đánh giá về hiệu quả của dự án và xác định tính đầy đủ về dự phòng cho việc suy giảm giá trị đầu tư, cũng như các khoản phải thu lãi cộng dồn (tuỳ theo sự thoả thuận đối với từng khoản đầu tư).

– Giá thị trường tại thời điểm ghi trong bảng cân đối, được xác định bằng cách kiểm tra giá cổ phần, hoặc trái phiếu của thị trường chứng khoán tại thời điểm đó. Căn cứ vào giá trên thị trường, tại thời điểm lập bảng cân đối và các chỉ số về thu nhập hàng năm của các loại chứng khoán đầu tư ngắn hạn, để xem xét việc lập khoản dự phòng giảm giá cho từng mục đầu tư có phù hợp hay không?

– Đánh giá việc chấp hành các qui định của NHNN.

3.3  Kiểm toán các khoản phải thu

3.3.1 Mục đích kiểm toán

Xác định rằng những khoản mục này được trình bày trong BCTC là thoả đáng và được phân loại chính xác; Bảo đảm rằng các khoản phải thu được thể hiện trên BCTC có khả năng thu hồi được; Xác định mức độ đầy đủ các khoản dự phòng với việc thua lỗ có thể xảy ra.

3.3.2 Nội dung kiểm toán

Kiểm tra các khoản phải thu của khách hàng gồm: các khoản ký quĩ, thế chấp, cầm cố, các khoản thanh toán với NSNN và các khoản phải thu nội bộ, chi phí chờ phân bổ, các khoản phải thu khác…; xác nhận các khoản mục quan trọng, công tác theo dõi thu hồi, xoá nợ hoặc các xử lý khác.

3.3.3 Phương pháp kiểm toán

– Đối chiếu số liệu giữa BCTC, sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và bản sao kê các khoản phải thu; so sánh số dư cuối năm với BCTC năm trước đã được duyệt, hoặc đã được kiểm toán, để có được sự giải thích cho những thay đổi quan trọng. Trên cơ sở đó lựa chọn mẫu, đối chiếu với chứng từ gốc.

– Xem xét nguồn gốc phát sinh các khoản phải thu, qui trình xét duyệt để thu hồi; Cần lưu ý đối với các khoản tồn đọng lâu ngày, những khoản vượt mức qui định… Phân loại các khoản phải thu có khả năng thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi, các biện pháp đôn đốc để giải quyết dứt điểm… Cuối năm phải được xác nhận các khoản phải thu để đảm bảo rằng sẽ được thu hồi đúng hạn.

– Với các khoản ký quĩ thế chấp, cầm cố: đây là số tiền hoặc là các tài sản hiện vật, được đơn vị đem ra làm vật đảm bảo cho một cam kết với bên thứ ba, về một việc làm trong tương lai. Nếu chúng được thu về trước thời gian kiểm toán, thì phải kiểm tra các hồ sơ thu tiền… Nếu các khoản này vẫn chưa được trả về cho đơn vị, thì phải chứng minh được rằng thời hạn cho chúng vẫn còn hiệu lực và phải điều tra về khả năng thu hồi;  Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn được chứng minh là không có khả năng thu hồi khi đơn vị không thực hiện theo hợp đồng, hoặc không có khả năng thực hiện các cam kết đó.

– Tính toán lại các khoản phải thanh toán với NSNN như tạm ứng nộp NSNN, thuế giá trị gia tăng đầu vào, các khoản chờ NSNN thanh toán có đúng không?

– Kiểm tra các khoản phải thu thực tế với các số dư cuối kỳ, bằng cách lấy xác nhận trực tiếp với khách hàng về các khoản nợ đó, KTV có thể thu được bằng chứng đáng tin cậy về sự tồn tại thực tế của khoản nợ và độ chính xác của các số dư tài khoản này đã được ghi sổ. Tuy nhiên, không thể xác nhận toàn bộ số dư tài khoản phải thu, nhưng hầu hết các khoản phải thu có số dư lớn phải được xác nhận trực tiếp với khách nợ; còn lại KTV sử dụng phương pháp chọn mẫu, để lấy xác nhận của khách hàng.

Các khoản phải thu được đánh giá là trung thực khi các khoản phải thu tồn tại thực tế tại thời điểm được đưa ra, khi khách hàng không có ý kiến bác bỏ về khoản nợ này và nó không được coi là không có khả năng thu hồi. KTV cần tập trung kiểm tra kỹ các khoản phải thu khó đòi, đã thanh lý trong kỳ để xem có khoản phải thu khó đòi nào đã được xóa sổ, thanh lý trong kỳ mà thực chất không phải như vậy.

– Các nghiệp vụ thanh toán nội bộ đơn vị gồm thanh toán liên hàng trong hệ thống (có thể là phải thu, hoặc phải trả) và các khoản phải thu, phải trả nội bộ. Cần kiểm tra thủ tục, qui trình và hạch toán thanh toán liên hàng để phát hiện các trường hợp thực hiện không đúng qui định; Chú ý kiểm tra việc xử lý các sai lầm và việc mở sổ sách ghi chép có đầy đủ hay không. Với các khoản phải thu nội bộ, cần rà soát lại các nội dung phát sinh công nợ, việc thanh quyết toán có kịp thời, đúng qui định hay không. Ngoài ra, cần kiểm tra xem việc phân loại các khoản phải thu nội bộ, có được thực hiện đúng đắn không.

Sau khi đã hoàn tất việc kiểm toán các khoản phải thu và đã thu được các bằng chứng (đầy đủ và tin cậy), KTV đưa ra kết luận về BCTC của đơn vị trình bày có trung thực, hợp lý các khoản phải thu hay không? Phân loại các khoản nợ phải thu theo các nhóm: nợ luân chuyển bình thường, nợ tồn đọng và đánh giá khả năng thu hồi, không có khả năng thu hồi; Phân tích nguyên nhân tại thời điểm ghi trong bảng cân đối kế toán.

– Dự phòng các khoản phải thu khó đòi, phải được cân nhắc cẩn thận cho bất cứ khoản phải thu nào tại thời điểm ghi trong bảng cân đối, vẫn chưa được thu hồi vào thời điểm kiểm toán. KTV phải kiểm tra các khoản phải thu lớn, đã quá hạn so với thời điểm ghi trong bảng cân đối, để đánh giá khả năng thu hồi và không có khả năng thu hồi của các khoản phải thu.

3.4. Kiểm toán các khoản lãi cộng dồn dự thu

3.4.1 Mục đích kiểm toán

– Nhằm đảm bảo rằng, BCTC đã phản ánh chính xác các khoản thu nhập đúng đắn, thích ứng với các khoản chi phí đã bỏ ra trong một thời kỳ kế toán.

–  Kiểm tra các khoản lãi phải thu đã được tính và luỹ kế trong các tài khoản; Các khoản lãi không thực hiện được, hoặc có dấu hiệu nghi vấn không được luỹ kế.

3.4.2 Nội dung kiểm toán

Kiểm toán các khoản tiền lãi cộng dồn dự tính thu được, được tính trên các khoản tiền gửi, cho vay, đầu tư chứng khoán ở trong và ngoài nước mà đơn vị sẽ được nhận khi đến hạn thanh toán. Ở tài khoản này, đơn vị không quan tâm tới việc đã nhận được tiền hay chưa, mà được hạch toán thu nhập khi tiền lãi phát sinh, được ghi nhận trong kỳ tính lãi .

3.4.3 Phương pháp kiểm toán

– Ngoài việc xác nhận các khoản lãi đã thu (thu nhập thực), còn phải xác nhận các khoản thu nhập trong tương lai.  Tính toán xem các khoản tiền lãi cộng dồn đã chính xác chưa? Đặc biệt, cần đối chiếu với kết quả đánh giá danh mục cho vay và đầu tư; Cần chú ý đối với việc tính lãi dự thu đối với các khoản nợ luân chuyển bình thường, nợ quá hạn. Khi kiểm toán các tài khoản này cần gắn liền với việc trích lập dự phòng nợ khó đòi.

– Dùng phương pháp đối chiếu để xem xét việc hạch toán số liệu trên các tài khoản này đã đảm bảo tuân thủ các qui định chưa. Với các khoản nợ bằng ngoại tệ thì cần kiểm tra thêm việc chuyển đổi sang đồng Việt Nam vào ngày lập báo cáo.

– Đánh giá các khoản lãi được miễn, giảm, xoá nợ bằng cách: đối chiếu với các qui định và hướng dẫn có liên quan của Chính phủ, Bộ Tài chính và NHNN.

3.5. Kiểm toán công cụ lao động và vật liệu

3.5.1 Mục đích kiểm toán

Xác định tính tồn tại và tính đúng đắn về giá trị của các tài sản theo các nguyên tắc kế toán; đồng thời, KTV phải có ý kiến về việc đầu tư tiền vào các tài sản này có phù hợp với các nguyên tắc, các qui định hay không?

3.5.2 Nội dung kiểm toán

– Kiểm tra việc mở sổ sách theo dõi, việc lưu giữ các chứng từ gốc về việc mua sắm công cụ dụng cụ, trang thiết bị, vật liệu.

– Xác định giá trị công cụ lao động và vật liệu đã xuất dùng, giá trị tồn kho có phù hợp với số liệu kiểm kê không; Xác định trách nhiệm việc quản lý và sử dụng tài sản.

– Việc thực hiện định mức sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ và quy trình quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ tại đơn vị?

3.5.3 Phương pháp kiểm toán

Chủ yếu dùng phương pháp kiểm tra chi tiết và phân tích, so sánh với các qui định về quản lý và sử dụng công cụ lao động, vật liệu.

– Đối chiếu biên bản kiểm kê với sổ sách kế toán và BCTC. Nếu thấy cần thiết có thể cho tiến hành kiểm kê.

– Kiểm tra việc mở sổ sách theo dõi công cụ lao động (số lượng, hiện vật, giá trị). Việc  hạch toán giá trị công cụ lao động đưa ra sử dụng, phân bổ vào chi phí và giá trị xuất khỏi tài sản của đơn vị.

– Kiểm tra việc mua sắm: dự toán, số lượng, chủng loại, giá cả có phù hợp không?

– Việc mở sổ sách chi tiết theo dõi vật liệu; việc kiểm tra đối chiếu, kiểm kê hàng tháng; Việc giao nhận, bảo quản, sử dụng và hạch toán vào chi phí…

3.6. Kiểm toán tài sản cố định và bất động sản đầu tư

3.6.1 Mục đích kiểm toán

Xác định tính tồn tại, quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt các tài sản đó. Xác định đúng giá trị của các tài sản theo các nguyên tắc kế toán; Bảo đảm rằng các TSCĐ được khấu hao phù hợp các qui định của Nhà nước; KTV phải có ý kiến về việc đầu tư tiền vào các tài sản này có phù hợp với các nguyên tắc, các qui định hay không? Đồng thời, bảo đảm có sự kiểm soát đầy đủ việc quản lý các TSCĐ đó.

3.6.2 Nội dung kiểm toán

TSCĐ bao gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư. Kiểm tra xem các TSCĐ đó đã được quản lý, sử dụng và hạch toán có đúng chế độ qui định không.

3.6.3 Phương pháp kiểm toán

– Kiểm tra hồ sơ, thủ tục: các thủ tục phê duyệt, cấp vốn, điều động vốn, hợp đồng mua bán, biên bản nghiệm thu, bàn giao tài sản, hồ sơ đấu thầu đối với các TSCĐ có giá trị lớn…. Giá cả có hợp lý không? Chứng từ, hoá đơn có hợp lệ, hợp pháp không? Việc thanh quyết toán đã chính xác chưa?  Một vấn đề mà KTV cần lưu ý là xác định sự tồn tại có thực đối với các tài sản đã kiểm tra và quyền sở hữu đối với tài sản đó.

–  Kiểm tra việc lập thẻ TSCĐ; Đối chiếu về mặt giá trị giữa sổ kế toán chi tiết và thẻ TSCĐ.

–  Kiểm tra việc hạch toán tăng, giảm TSCĐ; Việc theo dõi, quản lý TSCĐ, trích khấu hao; thanh lý TSCĐ đã chấp hành các qui định như thế nào?

+ Đối với TSCĐ hữu hình, thông qua việc kiểm kê thực tế, đối chiếu với sổ sách và BCTC, với các văn bản, chứng từ hợp lý, hợp lệ khi ghi tăng, giảm TSCĐ.

+ Với các công trình XDCB: kiểm tra việc chấp hành các qui định về quản lý đầu tư XDCB trong các bước chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quyết toán vốn đàu tư; Hợp đồng cung cấp vật tư, thiết bị; Hồ sơ đấu thầu, chọn thầu; Hồ sơ quyết toán công trình…

+ Đối với TSCĐ thuê tài chính: KTV phải kiểm tra các hợp đồng thuê tài chính về nội dung và việc thực hiện các iều khoản; Kiểm tra, đối chiếu giá trị với số dư tài khoản thuê tài chính; Kiểm tra việc trích và trả nợ gốc, nợ lãi có theo đúng qui định trong hợp đồng thuê tài sản không.

+ Đối với TSCĐ vô hình: cần xác định các bằng chứng về sự tồn tại của TSCĐ vô hình như quyền sử dụng đất, các công trình nghiên cứu, phát triển, chi phí chuyển giao công nghệ … được cơ quan chuyên môn ghi nhận là đã đăng ký bản quyền và các chứng từ, hoá đơn xác nhận thực tế đã chi ra.

– Chú ý phát hiện những trường hợp quản lý TSCĐ thiếu chặt chẽ, TSCĐ để ngoài sổ sách, không trích khấu hao hoặc trích không đúng tỷ lệ qui định, trích khấu hao đối với TSCĐ không thuộc loại phải khấu hao, hoặc TSCĐ đã hết thời gian sử dụng…

–  KTV  cần tính toán, xác định  việc mua sắm, đầu tư TSCĐ đảm bảo trong phạm vi cho phép: không quá 50% vốn tự có. Cần chú ý qui định đơn vị không được phép trực tiếp kinh doanh bất động sản.

3.7. Kiểm toán chi phí XDCB dở dang

3.7.1 Mục đích kiểm toán

Kiểm tra và xác định đúng những khoản xây dựng cơ bản dở dang.

3.7.2 Nội dung kiểm toán

Kiểm tra chi phí xây dựng, nâng cấp, cải tạo, mua sắm TSCĐ đến thời điểm kết thúc năm tài chính chưa hoàn thành, bàn giao để trở thành TSCĐ

3.7.3 Phương pháp kiểm toán

Để xác định đúng các chi phí XDCB dở dang, cần kiểm tra các công việc của KSNB đối với các công trình xây dựng. Chi phí XDCB dở dang trong bảng cân đối có thể bị ghi tăng lên. Điều này có thể xảy ra do khi số tiền chưa được chi cho các công trình, nhưng được hạch toán với sự đồng ý của người lãnh đạo đơn vị; Cần lưu ý là nguyên vật liệu đưa vào công trình có đúng chủng loại, định mức kinh tế kỹ thuật như thiết kế, dự toán được duyệt hay không?

– KTV có thể  kiểm tra thực tế, so sánh khối lượng thực tế với sổ sách. Trong tất cả các trường hợp, KTV phải tiến hành kiểm tra các tài liệu bổ sung cho chi phí XDCB dở dang, tại thời điểm ghi trong bảng cân đối; đặc biệt là việc kiểm tra các hoá đơn mua nguyên vật liệu có được nhập và xuất kho, đưa vào cho công trình có đúng chủng loại và định mức kinh tế kỹ thuật không?

– Xem xét lại hồ sơ các công trình, các khoản mục và xác định tính chất đúng đắn của các khoản chi phí dở dang có sát thực không? Có thực sự là chưa hoàn thành, hay còn vướng mắc chưa quyết toán được, mặc dù công trình đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và đưa vào sử dụng; hay vì một lý do nào đó mà còn hạch toán trên tài khoản này.

3.8 Kiểm toán các khoản nợ

3.8.1 Các khoản nợ

a) Mục đích kiểm toán

– Xác định số tiền đơn vị nợ về các loại tiền gửi, tiền vay cũng như các khoản thu, chi liên quan đã được hạch toán và trình bày trên báo cáo có theo các nguyên tắc kế toán hay không?

– Bảo đảm lãi suất trả cho khách hàng là đúng đắn.

– Xác định mức độ hợp lý của việc phân loại các tài khoản trong BCTC? Bảo đảm có sự kiểm soát đối với việc mở, đóng tài khoản cũng như các khoản gửi và rút tiền.

b) Nội dung kiểm toán

Kiểm tra sự đầy đủ và đúng đắn của các khoản nợ Chính phủ và NHNN; Tiền gửi và vay các TCTD khác; Vốn tài trợ ủy thác đầu tư; Tiền gửi của khách hàng; phát hành giấy tờ có giá.

Đây là các khoản tiền gửi và vay của khách hàng (NHNN, KBNN, TCTD khác, doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể, cá nhân..) và phần vốn do đơn vị phát hành các loại giấy tờ có giá trị, để huy động vốn như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu…

c) Phương pháp kiểm toán

– Đối chiếu số liệu trên BCTC với sổ tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, sao kê, từ đó tiến hành chọn mẫu để tiến hành các thử nghiệm khác.

– Trên cơ sở các thể lệ, chế độ về tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, lãi suất…kiểm tra việc hạch toán kế toán, lãi suất áp dụng, phương thức thanh toán, việc thực hiện tính và trả lãi. Chú ý việc thanh toán trả lãi trước kỳ hạn các khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, kỳ phiếu, trái phiếu… Khi đơn vị huy động vốn dưới hình thức tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có được phép không? Có văn bản chấp thuận không?

+ Kiểm tra, đối chiếu chứng từ gốc với nhật ký quĩ và các sổ chi tiết, sổ tổng hợp (chọn mẫu).

+ Với loại huy động trả lãi trước phải kiểm tra số lãi đã trả so với phiếu chi đã được đóng trong nhật ký.

+ Có thể đối chiếu với khách hàng để xác nhận một số khoản tiền gửi.

– Đối với các tài khoản tạm ngừng hoạt động cần chú ý đến việc chúng đã được tách theo dõi riêng và kiểm soát chặt chẽ không? Nếu có phát sinh thu – chi cần xem xét tính hợp lý, hợp lệ và hợp pháp một cách cụ thể.

– Đối với các khoản phải trả có lãi cộng dồn, cần kiểm tra sự hợp lý của các tài khoản, như: lãi tiền gửi có thể thẩm tra thông qua việc tính toán lãi đã trả và cộng dồn; Các chi phí về lãi suất, có thể liên quan đến số dư bình quân của các tài khoản phát sinh lãi phải trả và mức lãi suất trong thời gian đó.

– Thu từ dịch vụ phí phải được kiểm tra để xác định mức độ đúng đắn của việc thu đối với từng loại dịch vụ,  phù hợp với các chính sách của đơn vị.

– Phân tích số liệu: xem xét tính hợp lý; nhận dạng các biến động bất thường; so sánh số dư các thời kỳ với nhau; chi phí trả lãi tiền gửi với số dư…

3.8.2 Các khoản phải trả

a) Mục đích kiểm toán

Xác nhận rằng các khoản nợ phải được hạch toán theo đúng các nguyên tắc kế toán, và được phản ánh đầy đủ, chính xác trong BCTC.

b) Nội dung kiểm toán

Xác định số liệu, sự phù hợp, đúng đắn, đầy đủ tại thời điểm báo cáo, bao gồm các khoản phải trả về XDCB, mua sắm TSCĐ, tiền giữ hộ và đợi thanh toán, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, chuyển tiền phải trả, nhận ký quĩ, phải trả cán bộ, công nhân viên…

c) Phương pháp kiểm toán

– Đối chiếu số liệu trên BCTC với sổ tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, sao kê. Từ đó tiến hành chọn mẫu để kiểm tra chứng từ gốc và các tài liệu khác có liên quan.

– Kiểm tra việc tuân thủ qui trình XDCB, mua sắm TSCĐ; Tính toán lại số phải nộp NSNN; Việc trích lập và sử dụng quĩ tiền lương, có chấp hành đúng các qui định không? Đối với các khoản phải trả nội bộ cần xem xét kỹ nguồn gốc phát sinh các khoản này, và công tác thanh, quyết toán.

Với các khoản mục lớn bất thường và các khoản tồn đọng lâu ngày chưa được giải quyết phải xem xét kỹ hồ sơ, xác định nguyên nhân, nội dung cụ thể và có phương án xử lý cụ thể.

– Nếu xét thấy cần thiết, KTV phải lấy xác nhận của từng chủ  nợ.

3.9. Kiểm toán nguồn vốn chủ sở hữu và các quỹ

3.9.1 Mục đích kiểm toán

Xác định rằng các khoản mục vốn, quỹ được ghi nhận theo đúng các nguyên tắc kế toán, tài chính; Các biến động đều phải được uỷ quyền hợp pháp hay được phê duyệt theo các qui định.

3.9.2 Nội dung kiểm toán

Kiểm toán để xác định nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn của tổ chức tín dụng (Vốn điều lệ; Vốn đầu tư XDCB; thặng dư vốn cổ phần; cổ phiếu quỹ; cổ phiếu ưu đãi; Vốn khác); Các quĩ của TCTD (Quĩ dự trữ bổ xung vốn điều lệ; Quĩ đầu tư phát triển; Quĩ dự phòng tài chính; Quĩ dự phòng trợ cấp mất việc làm; quỹ khen thưởng phúc lợi; Quĩ khác); Chênh lệch tỷ giá hối đoái; Chênh lệch đánh giá lại tài sản; Lợi nhuận chưa phân phối.

3.9.3 Phương pháp kiểm toán

– Kiểm tra việc cấp vốn ban đầu, cấp bổ sung, các nguồn khác và các phê duyệt liên quan đến nguồn vốn chủ sở hữu.

– Kiểm tra việc hạch toán tăng, giảm nguồn vốn chủ sở hữu trong kỳ: đối chiếu chi tiết với tổng hơp; Kiểm tra chứng từ gốc để xác định tính hợp lệ của nghiệp vụ (có đúng với qui định về quản lý taì chính và điều lệ không?); Có được ghi chép đúng với chế độ kế toán không?

– Việc trích lập và sử dụng các quĩ có đúng qui định không?

– Đối với các quỹ phát triển kinh doanh, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng và phúc  lợi, nguồn vốn XDCB, KTV cần tiến hành các công việc sau:

+ Đối chiếu số dư đầu kỳ với BCTC đã được phê duyệt hoặc được kiểm toán của năm trước.

+ Kiểm tra các tài liệu hỗ trợ, để đảm bảo rằng những thay đổi trong năm đối với các tài khoản này đã được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền và được vào sổ một cách đúng đắn.

– Kiểm tra việc đánh giá lại tài sản và tỷ giá có theo đúng các qui định của Nhà nước không? KTV cần đánh giá phương pháp hạch toán chênh lệch tỷ giá của đơn vị có phù hợp với chế độ kế toán hiện hành và áp dụng một cách nhất quán không? KTV thu thập hoặc phân tích chênh lệch tỷ giá cho số ngoại tệ còn tồn đến 31/12 theo tỷ giá quy định tại thời điểm ghi trong bảng cân đối.

– Kiểm tra các nghiệp vụ xử lý chênh lệch đánh giá lại tài sản có được xét duyệt bởi các cơ quan có thẩm quyền không? KTV có thể kiểm tra chênh lệch đánh giá lại tài sản theo cách:

+ Đối chiếu số dư đầu kỳ với BCTC đã được duyệt, hoặc kiểm toán năm trước.

+ Đối chiếu việc đánh giá lại trong năm, với báo cáo đánh giá hoặc các tài liệu hỗ trợ khác, đồng thời đối chiếu với công việc kiểm toán đã được thực hiện về phần TSCĐ.

+ Kiểm tra các tài sản đã đánh giá, được bán ra mà đã được trích khấu hao toàn bộ không.

Khi kiểm toán đối với nguồn vốn – quỹ, thông thường KTV sử dụng phương pháp phân tích cơ cấu nguồn vốn và các chỉ số, để đánh giá tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của đơn vị.

Xem xét tình hình tăng, giảm cơ cấu nguồn vốn, cụ thể từng trường hợp, KTV có thể đánh giá chiều hướng phát triển của đơn vị tốt hay xấu.

– Kiểm toán lãi chưa phân phối

Đối chiếu số dư đầu kỳ với BCTC của năm trước đã được phê duyệt hoặc được kiểm toán; Đối chiếu lãi hoặc lỗ trong năm với báo cáo lãi lỗ; Đối chiếu và tính toán kiểm tra việc phân phối lãi…

3.10. Kiểm toán các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán

3.10.1 Mục đích

Kiểm toán tính đầy đủ, trung thực, hợp lý số liệu các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán

3.10.2 Nội dung

Theo các chỉ tiêu cụ thể quy định tại mẫu biểu về các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối của NHNN

3.10.3 Phương pháp kiểm toán

Áp dụng theo các phương pháp kiểm toán như các khoản nợ phải thu, phải trả, các khoản tiền và tài sản phản ánh trong nội bảng cân đối kế toán như đã nêu trên.

4. Kiểm toán hoạt động tín dụng

4.1 Mục đích kiểm toán

Mục tiêu của kiểm toán hoạt động tín dụng là xác định ảnh hưởng của hoạt động tín dụng đến kết quả tài chính, và mức độ ảnh hưởng phải được lượng hoá thành tiền.

4.2 Nội dung kiểm toán

–  Xác định mức độ phù hợp với các văn bản pháp qui trong qui chế, qui trình thủ tục tín dụng của đơn vị và ảnh hưởng của hoạt động này đến hiệu quả kinh doanh;

– Kiểm tra việc chấp hành các qui định trong các văn bản pháp qui về từng loại nghiệp vụ tín dụng;

– Xác định mức độ chính xác về doanh số cho vay, thu nợ và số dư từng nghiệp vụ tín dụng;

– Phân tích, đánh giá sự đảm bảo về chất lượng tín dụng, dự kiến mức độ rủi ro và  trích lập dự phòng theo qui định;.

4.3. Phương pháp kiểm toán

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thông tin kiểm soát nội bộ

Nếu bước này chưa được tiến hành cùng với việc đánh giá chung về KSNB,  thì  KTV căn cứ môi trường kiểm soát chung (các yếu tố về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch,…), hệ thống kế toán, hệ thống và qui trình kiểm soát để đánh giá và quyết định sử dụng kết quả KSNB ở mức độ nào.

a) Thu thập thông tin, tài liệu

– Các biên bản, báo cáo thanh tra của các cơ quan và nội bộ đơn vị;

– Các báo cáo tổng kết (quí, 6 tháng, 9 tháng và năm về công tác tín dụng);

– Các hồ sơ cho vay, hồ sơ bồi thường, sổ theo dõi của cán bộ tín dụng, bồi thường và các sổ sách, tài liệu, vật chứng liên quan;

– Chức năng, nhiệm vụ của KSNB và qui trình KSNB đối với hoạt động tín dụng;

– Qui định về chức năng, nhiệm vụ của các phòng tín dụng;

– Chiến lược kinh doanh của đơn vị.

b) Phương pháp đánh giá

Chủ yếu áp dụng các phương pháp kiểm toán tuân thủ: kỹ thuật điều tra hệ thống, các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát, có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý trực tiếp, bộ máy thanh tra của Chính phủ,  NHNN.

Để quyết định áp dụng phương pháp kiểm toán nào và xác định mức độ tin cậy vào kết quả KSNB , có thể vận dụng các bước như sau:

– Trước hết, phải đánh giá môi trường kiểm soát chung, bao gồm toàn bộ các yếu tố có tính chất môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và kết quả (sự hữu hiệu) của các qui chế, qui trình kiểm soát của đơn vị. Cần xem xét những yếu tố chủ yếu sau:

+ Đặc thù về quản lý: tìm hiểu quan điểm của những người quản lý đơn vị về hoạt động kinh doanh; quan điểm về chính sách và thủ tục kiểm soát; cơ cấu quyền lực tập trung vào một người hay nhiều người…

+ Cơ cấu tổ chức: hợp lý hay không hợp lý, có đảm bảo nguyên tắc và hiệu quả cho công tác quản lý hay không?

+ Bộ phận KTNB: về tổ chức trực thuộc cấp nào? Có bị giới hạn phạm vi hoặc khống chế hoạt động không? Nhân viên có trung thực không? Có đủ năng lực kiểm soát không? Thông tin kiểm soát có phong phú không? …

+ Ngoài ra có thể tìm hiểu tác động của các yếu tố khác như công tác kế hoạch, chính sách nhân sự và các yếu tố bên ngoài (ảnh hưởng của cơ quan quản lý Nhà nước, trách nhiệm pháp lý…) Vấn đề cần lưu ý là người đứng đầu có nhận thức đủ tầm quan trọng và sử dụng tốt hệ thống KSNB phục vụ cho hoạt động quản lý của mình hay không?

– Nếu môi trường kiểm soát nêu trên còn yếu, thì chuyển sang phương pháp thử nghiệm. Trường hợp này đòi hỏi cần nhiều KTV và kiểm toán phải làm việc vất vả hơn, bởi vì công việc kiểm toán không dựa vào kết quả KTNB được.

– Nếu môi trường kiểm soát được đánh giá mạnh, thì đánh giá rủi ro kiểm soát. KTV tiến hành kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ đã được kiểm soát theo đúng qui trình KSNB không? Những yếu tố cần xem xét để đánh giá mức độ rủi ro là: bản chất kinh doanh của khách hàng, bản chất các bộ phận được kiểm toán, bản chất các hệ thống kế toán và thông tin; xem xét các loại nghiệp vụ phức tạp và mới, khối lượng giao dịch lớn; cách thức phân bổ lao động theo phân định công việc,…

Nếu rủi ro kiểm soát cao thì phải chuyển sang phương pháp thử nghiệm số liệu.

Nếu rủi ro kiểm soát thấp thì đánh giá mức thoả mãn về kiểm soát theo 3 cấp: cao, phải chăng, thấp (không thoả mãn). Đây là sự đánh giá về qui chế, qui trình kiểm soát và việc thực hiện nó có hiệu quả không, có tin cậy được không (theo 3 cấp đánh giá tính hiện thực, tính đúng đắn của các cơ sở dẫn liệu trong BCTC, báo cáo kinh doanh tín dụng của đơn vị và có sự so sánh với chi phí kiểm toán).

Nếu mức thoả mãn ở cấp độ cao, phải chăng thì áp dụng phương pháp cập nhật cho hệ thống: kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ để đánh giá lại mức đội rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát .

Các thử nghiệm chi tiết đối với kiểm soát: được tiến hành để thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu của qui chế kiểm soát và qui trình kiểm soát. Các thử nghiệm chủ yếu được thực hiện trên cơ sở kiểm tra mẫu các qui chế KSNB, ngoài ra, còn kết hợp với quan sát trực tiếp, phỏng vấn, đối chiếu,…

Căn cứ kết quả đánh giá, KTV xác định phạm vi, loại hình và thời gian thực hiện phương pháp kiểm toán cơ bản (dựa vào số liệu).

4.3.2 Rà soát qui chế, qui trình thủ tục của từng nghiệp vụ tín dụng do đơn vị được kiểm toán ban hành

Qui chế, qui trình nghiệp vụ của từng đơn vị có ảnh hướng lớn đến kết quả kinh doanh. Công việc của kiểm toán là xem xét tính khoa học và mức độ phù hợp của qui chế, qui trình nghiệp vụ nội bộ mà đơn vị đã ban hành so với qui định chung, các văn bản pháp qui có liên quan tới hoạt động tín dụng do Chính phủ và NHNN đã ban hành.

a) Thu thập thông tin, tài liệu

– Các văn bản pháp qui: Luật Các tổ chức tín dụng, các qui chế, thể lệ nghiệp vụ do Thống đốc NHNN ban hành, các luật và văn bản có liên quan của Nhà nước và các cơ quan chức năng,…(Qui chế về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, cầm đồ, qui định về quản lý vay, trả nợ nước ngoài, quản lý ngoại hối,…)

– Qui chế, qui trình các nghiệp vụ thuộc lĩnh vực tín dụng và các văn bản hướng dẫn khác của đơn vị được kiểm toán.

– Sao kê dự nợ cho vay đến thời điểm 31/12 năm kiểm toán và đến thời điểm kiểm toán (đối với các NH);

– Hồ sơ cho vay: Trước khi yêu cầu cung cấp hồ sơ cho vay KTV cần thực hiện các thủ tục chọn mẫu khách hàng vay nợ ngân hàng, việc chọn mẫu phải căn cứ vào qui mô và tính chất các khoản nợ để chọn mẫu các khách hàng vay nợ ngân hàng cần kiểm tra đảm bảo tỷ lệ (giá trị dư nợ vay chọn kiểm tra/ tổng giá trị dư nợ cho vay thuộc mỗi nhóm nợ) thích hợp.

b) Phương pháp kiểm tra, đối chiếu

(Có phụ lục chi tiết về phương pháp và nội dung kiểm toán hoạt động tín dụng kèm theo)

Đối chiếu các hướng dẫn cụ thể trong qui chế, qui trình nghiệp vụ của đơn vị với qui định trong văn bản pháp qui .

Nội dung đối chiếu chủ yếu về chính sách cho vay chung của đơn vị được kiểm toán; đối tượng, điều kiện (cho vay, bảo lãnh,…) chấp nhận biện pháp bảo đảm tiền vay, bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, xử lý nợ xấu; quản lý rủi ro;…

Nếu phát hiện những trường hợp vượt ra ngoài qui định, cần tìm hiểu nguyên nhân cụ thể.

c)  Nhận xét, đánh giá

Sau khi kiểm tra xong, KTV đưa ra nhận xét, đánh giá chủ yếu trên 2 khía cạnh:

– Về tính đầy đủ: Qui chế, qui trình của đơn vị đã đầy đủ chưa (nhiều đơn vị  không có văn bản hướng dẫn về qui trình nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, cầm đồ,…). Nếu không đầy đủ sẽ dẫn tới tình trạng tiến hành công việc ở các chi nhánh không giống nhau, dễ dẫn tới rủi ro .

– Về tính hợp pháp: Nếu có trường hợp khác các qui định so với các văn bản pháp qui, thì phải đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó đến hiệu quả kinh doanh tín dụng (nếu nới lỏng quá sẽ dẫn đến rủi ro, nếu thắt chặt hơn sẽ làm giảm khối lượng tín dụng, hạn chế việc phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế) .

4.3.3 Tổng hợp tình hình chung và kiểm tra việc chấp hành qui định cụ thể về nghiệp vụ tín dụng theo  các văn bản pháp qui

Trong bước này, KTV cần có sự khái quát về số liệu, tình hình chung để có quan điểm tổng hợp. Trên cơ sở đó, KTV tiến hành kiểm tra việc chấp hành qui định cụ thể về hoạt động tín dụng của đơn vị. Nội dung chủ yếu cần tập trung vào điều kiện tín dụng, mức cho vay, bảo lãnh, cho thuê, lãi suất, mức phí áp dụng; việc xử lý nợ (chuyển nợ quá hạn, gia hạn nợ, định lại kỳ hạn nợ, giãn nợ, khoanh nợ, lãi chưa thu; phát mại tài sản thu hồi nợ,…). Nếu có các trường hợp xử lý không đúng qui định, phải xác định lại và ghi rõ số liệu để phục vụ cho việc đánh giá chất lượng tín dụng ở bước sau.

a)  Thu thập tài liệu, thông tin

– Sử dụng tài liệu, thông tin của bước 2 .

– Hồ sơ thực tế của từng nghiệp vụ tín dụng (đối với nghiệp vụ cho vay là hồ sơ cho vay, với nghiệp vụ bảo lãnh là hồ sơ bảo lãnh,… của từng món) .

– Báo cáo số liệu tổng hợp thời kỳ kiểm toán về từng nghiệp vụ tín dụng

– Báo cáo chất lượng tín dụng của đơn vị.

b)  Phương pháp kiểm toán

– Chủ yếu sử dụng phương pháp kiểm toán tuân thủ đối chiếu; phỏng vấn; phân tích số liệu tổng hợp .

– Chọn mẫu để kiểm tra: Tuỳ theo thời gian, yêu cầu của đợt kiểm toán để chọn mẫu nhiều hay ít theo phân nhóm, phân tổ trong từng nghiệp vụ tín dụng.

c) Nhận xét, đánh giá

Sau khi kiểm tra, KTV đưa ra nhận xét, đánh giá trên các mặt sau:

– Nhận xét khái quát về qui mô khối lượng, chất lượng tín dụng nói chung, trong đó cần nêu từng nghiệp vụ cụ thể (cho vay, bảo lãnh, chiết khấu,…); Việc chấp hành qui định các văn bản pháp qui về hoạt động tín dụng .

– Nhận xét việc chấp hành với từng loại hình nghiệp vụ cụ thể, cần lưu ý:

+ Đối với nghiệp vụ cho vay: Nhận xét về hồ sơ cho vay có đảm bảo tính pháp lý không? Có đầy đủ không? (gồm hồ sơ vay vốn; hồ sơ giải ngân; hồ sơ kiểm soát sau, xử lý nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng…) .

Nhận xét việc áp dụng đối tượng cho vay (đối tượng được cho vay, không được cho vay so với qui chế cho vay) .

Nhận xét bên vay có đủ điều kiện vay vốn không? Phân loại các trường hợp không đủ điều kiện theo từng tiêu thức: Tư cách vay vốn; Khả năng tài chính; mục đích sử dụng vốn vay; tính khả thi và hiệu quả phương án kinh doanh, dự án đầu tư; biện pháp bảo đảm tiền vay.

Nhận xét việc áp dụng các phương thức cho vay có phù hợp không? Khách hàng nào không đủ tín nhiệm lại được vay với phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng. Nếu cho vay hợp vốn có theo đúng qui định không? Việc mua, bán nợ có lành mạnh không?

Nhận xét việc chấp hành các qui định khác: mức cho vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay, thực hiện qui định về quản lý ngoại hối khi cho vay ngoại tệ, miễn, giảm lãi vay;…

Nhận xét việc kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay, xử lý nợ có đúng qui định không? Gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ có đúng không? Phát mại tài sản thu hồi nợ có đúng qui định về thủ tục đấu giá, định giá không? Nếu việc xử lý nợ không đúng sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc đánh giá chất lượng nợ vay, khả năng thu hồi nợ và trích quỹ dự phòng nên cần kiểm tra kỹ và nhận xét cụ thể về khâu này.

Đối với các khoản cho vay ưu đãi và cho vay đầu tư xây dựng theo kế hoạch Nhà nước có theo đúng qui định không, có nhận vốn của Chính phủ rồi lại cho vay trường hợp khác không?

Đối với cho vay theo uỷ thác có phù hợp với qui định của pháp luật về tín dụng đơn vị và hợp đồng uỷ thác không?

Sau đó, tổng hợp nhận xét chung việc chấp hành qui định về nghiệp vụ cho vay và mức độ ảnh hưởng của nó tới chất lượng nợ vay.

+ Đối với nghiệp vụ bảo lãnh

Kiểm tra tổng số dư bảo lãnh của đơn vị được kiểm toán có vượt mức qui định theo tỉ lệ so với quĩ bảo lãnh không? Có trích quĩ bảo lãnh không?

Bảo lãnh vay vốn nước ngoài

Kiểm tra, nhận xét đối tượng được bảo lãnh (bên được bảo lãnh) có đủ điều kiện không? (Tư cách; việc chấp hành qui chế vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ; hợp đồng vay vốn; phương án, dự án đầu tư; tài sản bảo đảm,…)

Kiểm tra nhận xét các hình thức bảo lãnh có phù hợp với thông lệ quốc tế và qui định của Chính phủ Việt Nam hay không (lưu ý hình thức L/C mua hàng trả chậm).

Kiểm tra thời hạn bảo lãnh có phù hợp với thời gian vay vốn, khả năng trả nợ của bên được bảo lãnh không?

Bảo lãnh trong nước

Kiểm tra, nhận xét bên được bảo lãnh có đủ điều kiện không? (tư cách; kinh doanh có lãi; có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, thanh toán; có tài sản bảo đảm;…)

Kiểm tra, nhận xét hồ sơ, thủ tục bảo lãnh có đầy đủ không? đơn vị  phải cam kết gì với bên nhận bảo lãnh (theo từng loại: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay,…)

+ Đối với nghiệp vụ cho thuê tài chính

Nhận xét bên thuê có đủ điều kiện không (là đơn vị được thành lập theo pháp luật Việt Nam, sản xuất kinh doanh có lãi, tài chính lành mạnh, có dự án khả thi,..)

Kiểm tra, nhận xét hồ sơ xin thuê có đầy đủ không? Thời hạn thuê có phù hợp với khả năng, thời gian thu hồi vốn không?

Kiểm tra việc tuân thủ qui định về sử dụng nguồn vốn của Công ty cho thuê tài chính …

+ Đối với dịch vụ cầm đồ

Kiểm tra “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ cầm đồ”, do chi nhánh NHNN cấp cho chi nhánh đơn vị, nếu trong điều lệ tổ chức và hoạt động của đơn vị không có dịch vụ này.

Kiểm tra, nhận xét về thủ tục cầm đồ, việc lưu giữ và xử lý vật cầm.

+ Đối với nghiệp vụ chiết khấu

Kiểm tra, nhận xét việc chấp hành các qui định về chiết khấu, trong đó lưu ý các thương phiếu có theo đúng luật lưu thông hối hiếu hay không, các giấy tờ có giá có đủ tiêu chuẩn được chiết khấu không?

Kiểm tra, nhận xét hồ sơ, thủ tục chiết khấu có đầy đủ, chặt chẽ hay không? Việc tạm ứng được tiến hành đúng qui định không?

Cuối cùng, từ nhận xét khái quát về qui mô, nhận xét về việc chấp hành qui định tại các văn bản pháp qui, qui chế, qui trình của từng nghiệp vụ cụ thể, KTV tổng hợp đánh giá mức độ đúng, sai và ảnh hưởng của nó tới chất lượng tín dụng.

4.3.4 Đánh giá chất lượng tín dụng

Mục tiêu của bước này là: từ việc đánh giá chất lượng tín dụng, để phân loại nợ, phân loại số dư bảo lãnh, số dư cho thuê tài chính,… làm căn cứ để đưa ra các giải pháp ngăn chặn, hạn chế và xử lý các rủi ro, nhằm bảo đảm an toàn tín dụng và là cơ sở để lập quỹ dự phòng. Đây là bước quan trọng nhất trong qui trình kiểm toán hoạt động tín dụng và phải tiến hành nhiều công việc đòi hỏi có thời gian, trí tuệ và kinh nghiệm.

a) Thu thập tài liệu, thông tin

– Báo cáo sơ kết, tổng kết công tác tín dụng của đơn vị được kiểm toán.

– Sổ theo dõi, báo cáo chuyên đề, báo cáo thống kê của phòng chuyên môn về nghiệp vụ tín dụng.

– Báo cáo thống kê tín dụng của chi nhánh đơn vị.

– Các biên bản thanh tra, kiểm tra về tín dụng trong thời kỳ kiểm toán.

– Cân đối tài khoản của đơn vị và các chi nhánh.

– Báo cáo phân loại nợ theo qui định của NHNN, của đơn vị…

– Qui định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Thống đốc NHNN Việt Nam.

– Kết quả kiểm toán của các bước 1, 2, 3 trong kiểm toán hoạt động tín dụng trên đây và kết quả kiểm toán tài sản, nguồn vốn ở phần trên.

– Yêu cầu đơn vị và các chi nhánh lập báo cáo theo mẫu: Báo cáo tình hình và phân loại nợ, phiếu điều tra chọn mẫu khách hàng, cần lưu ý bên được kiểm toán báo cáo đầy đủ, trung thực.

b)  Phương pháp kiểm toán

– Đối chiếu số liệu theo dõi ở đơn vị Trung ương, với số liệu báo cáo của chi nhánh, đối chiếu sổ sách kế toán với báo cáo thống kê, yêu cầu giải thích những trường hợp không khớp đúng .

– Thảo luận trực tiếp với những phòng chuyên môn thuộc về nghiệp vụ tín dụng ở Ngân hàng Trung ương; thảo luận trực tiếp với cán bộ tín dụng ở chi nhánh hoặc với khách hàng về câu hỏi trong phiếu điều tra.

– Rà soát tất cả các khoản tín dụng trọng yếu.

– Đối với nợ xấu cần phân tích trên nhiều giác độ: theo thời gian quá hạn, theo khả năng thu hồi, theo tài sản bảo đảm, theo đối tượng cho vay…

c)  Nội dung  kiểm toán và nhận xét, đánh giá

* Nghiệp vụ cho vay

– Kiểm toán doanh số cho vay, thu nợ cần loại trừ các bút toán điều chỉnh trong hạch toán (Ví dụ: loại trừ doanh số chuyển nợ nhóm này khỏi doanh số thu nợ nhóm khác tương ứng); Kiểm tra dư nợ ở các tài khoản cho vay.

– Kiểm tra, nhận xét nợ thông thường: Lưu ý phát hiện dấu hiệu hoặc khẳng định những khoản khó đòi thuộc nợ thông thường (khách hàng bị lừa đảo; thiên tai, hoả hoạn, sản phẩm hàng hoá bị kém mất phẩm chất, không bán được,…)

– Kiểm tra, nhận xét nợ được kéo dài hạn trả (gồm gia hạn nợ, định lại kỳ hạn nợ, giãn nợ, khoanh nợ).

Nếu ở bước 3 phát hiện việc kéo dài hạn trả không đúng qui định, thì ở bước này KTV phải phân tích kỹ khoản nợ, để phân nhóm cho phù hợp và đánh giá khả năng thu hồi. (Nợ quá hạn nhưng có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó có khả năng thu hồi, hoặc không có khả năng thu hồi).

– Kiểm tra, nhận xét nợ xấu theo tính chất các khoản nợ ( về thời gian quá hạn và theo khả năng thu hồi). Nguyên nhân nợ xấu phải được phân tích rõ để làm cơ sở đánh giá khả năng thu hồi (phân tích khả năng tài chính và tính hoạt động của khách hàng). Số tiền có thể thu nợ từ tiền bán hàng, dịch vụ của bên vay; số tiền có thể thu được từ phát mại tài sản đảm bảo; số tiền không thu được…

– Kiểm tra, nhận xét lãi cho vay chưa thu (theo quy định hiện nay là lãi của những khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5). Khoản này phần nào ảnh hưởng đến kết quả tài chính nên cần được kiểm tra kỹ, đánh giá đúng. Trước hết, KTV cần xác định số lãi cho vay chưa thu từ số liệu trên tài khoản ngoại bảng, tính số lãi chưa thu của nợ trả theo phương thức trả lãi cùng nợ gốc,… Sau đó đối chiếu với báo cáo thống kê, báo cáo theo mẫu do đơn vị lập cho kiểm toán để phân tích lãi treo theo các nguyên nhân khách quan, chủ quan đối với khách hàng và đối với đơn vị. Sự gian lận ở đây thường biểu hiện về phía đơn vị là dấu doanh thu, thoả thuận với khách hàng cho lùi lại đầu năm sau sẽ thu lãi, hoặc không cho vay và không thu lãi các công trình dự án trong thời kỳ đang thi công…

* Nghiệp vụ bảo lãnh

– Kiểm toán doanh số bảo lãnh, số tiền đã thanh toán trong kỳ kiểm toán, số dư cuối kỳ. Căn cứ để kiểm toán là số liệu hạch toán nhập, xuất tài khoản ngoại bảng; số tiền phải trả thay ở tài khoản nội bảng (số tiền đã thanh toán bằng doanh số xuất tài khoản ngoại bảng, trừ đi doanh số xuất tương ứng với số tiền trả thay, cộng với số tiền khách hàng đã trả đơn vị  về số tiền đơn vị trả thay) .

– Kiểm tra, nhận xét chất lượng số dư bảo lãnh cuối kỳ kiểm toán (căn cứ vào các báo cáo, sổ sách và phiếu điều tra):  Xem xét giá trị vật tư, hàng hoá, dịch vụ tương ứng với số dư bảo lãnh (trường hợp bảo lãnh mua hàng trả chậm ngắn hạn);  Xem xét tình hình hoạt động, hiệu quả của dự án đầu tư; nguồn tiền để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh từ khấu hao, lợi nhuận, nguồn khác (trường hợp bảo lãnh trung dài hạn mua trả chậm thiết bị, công nghệ); Xem xét việc thực hiện các nghĩa vụ của bên được bảo lãnh (trường hợp bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng,…)

– Đối với các trường hợp trả thay phải phân tích kỹ nguyên nhân, nguồn thu và giá trị tài sản bảo đảm, ước tính số tiền có thể thu từ phát mại tài sản  và nguồn khác.

* Nghiệp vụ cho thuê tài chính

– Kiểm tra, nhận xét tình hình, hiệu quả sử dụng tài sản thuê

– Xem xét nguồn trả tiền thuê của bên thuê từ việc sử dụng tài sản thuê và nguồn khác

– Đối với trường hợp chậm trả tiền thuê, phải phân tích rõ nguyên nhân, dự kiến khả năng thu hồi từ tiền bán tài sản cho thuê hoặc cho bên khác thuê.

* Dịch vụ cầm đồ

– Đối chiếu số tiền ứng với giá trị vật cầm.

– Đối với số tiền ứng quá thời hạn thanh toán phải phân tích nguyên nhân vì sao chưa bán được vật cầm, dự kiến số tiền thu được từ việc bán vật cầm tương ứng

*  Nghiệp vụ chiết khấu

– Trường hợp đơn vị có quyền truy đòi nếu đến hạn thanh toán thương phiếu, nhưng bên có nghĩa vụ thanh toán không trả đủ tiền: Phân tích khả năng tài chính của khách hàng chiết khấu và khả năng trả tiền của bên có nghĩa vụ thanh toán .

– Trường hợp đơn vị không có quyền truy đòi: phân tích khả năng trả tiền của bên có nghĩa vụ thanh toán, đưa ra mức độ rủi ro có thể xảy ta đối với từng loại thương phiếu, giấy tờ có giá .

4.3.5 Phân loại tín dụng

Tiến hành phân loại dư nợ theo các nhóm nợ căn cứ theo Qui định hiện hành của NHNN

4.3.6 Kiểm toán việc trích lập và sử dụng quĩ dự phòng

Mục đích: Xác định đơn vị đã lập dự phòng rủi ro tín dụng theo các nhóm nợ đã phân loại hay chưa? Xem xét và đối chiếu việc phân loại và trích dự phòng (cả dự phòng chung và dự phòng cụ thể), việc phân loại nhóm nợ theo định tính và định lượng như thế nào, có cơ sở không?

Trên cơ sở kết quả phân loại nhóm nợ, tiến hành kiểm toán việc trích lập và sử dụng dự phòng của đơn vị:

– Lập bảng trích lập dự phòng theo kết quả phân loại ở trên.

– So sánh số tiền thực trích của đơn vị được kiểm toán với kết quả tính toán ở trên. Nếu có chênh lệch lớn cần xem xét kỹ, tính toán lại. Kết quả cuối cùng lấy theo đánh giá và tính toán của KTV.

–  Kiểm tra, nhận xét việc sử dụng quỹ dự phòng.

+ Xem xét việc xử lý rủi ro, tận thu các khoản có khả năng thu, yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của mình, phát mại tài sản bảo đảm,… Sau khi xử lý như đã nêu trên đơn vị mới trích quỹ dự phòng để bù đắp.

+ Kiểm tra xem xét các trường hợp được bù đắp từ quỹ dự phòng có đúng đối tượng, đúng chế độ không, có đủ hồ sơ không? Việc thực hiện qui chế và qui trình làm việc của Hội đồng xử lý rủi ro có đúng qui định không?

Nếu có sai phạm thì KTV loại trừ số tiền xử lý sai, yêu cầu đơn vị có biện pháp giải quyết, hạch toán lại số tiền bù đắp không đúng vào tài khoản nội bảng.

+ Kiểm tra số tiền thu hồi được đã hoàn nhập vào thu nhập bất thường trong kỳ kiểm toán.

5. Kiểm toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh

5.1. Kiểm toán doanh thu

5.1.1 Mục đích kiểm toán

Kiểm toán doanh thu để đưa ra sự xác nhận về doanh thu trong năm tài chính, có được đơn vị trình bày một cách kịp thời, đầy đủ, hợp lý và trung thực trên BCTC hay không? Xác định rằng tất cả các nguồn thu được áp dụng theo đúng các nguyên tắc kế toán, được phân loại phù hợp trong BCTC; Kiểm toán để đưa ra sự xác nhận các khoản thu nhập bất thường có được phản ánh đầy đủ, trung thực không và có được phân loại chính xác không?

5.1.2 Nội dung kiểm toán

Xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, chính xác của các khoản thu

Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự bao  gồm: thu lãi cho vay; Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh; Thu từ nghiệp vụ cho thuê tài chính; Thu khác về hoạt động tín dụng (đối với các ngân hàng);

Các khoản thu về phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm; hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; thu khác từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm; thu phí dịch vụ đại lý (giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, thu đòi người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%); (đối với các doanh nghiệp Bảo hiểm). Kiểm tra xác định và hạch toán doanh thu đối với các doanh nghiệp bảo hiểm cần lưu ý:

–  Các khoản phải điều chỉnh tăng doanh thu bao gồm:
+ Các khoản nợ phí bảo hiểm Công ty đã phải chịu trách nhiệm bảo hiểm nhưng chưa thu được nợ, chưa xuất hoá đơn thu phí bảo hiểm;
+ Phí bảo hiểm đã thu, đã phát sinh trách nhiệm bảo hiểm chưa hạch toán doanh thu;
+ Khách hàng đã nhận nợ phí bảo hiểm và đã phát sinh trách nhiệm bảo hiểm chưa hạch toán doanh thu;
– Các khoản phải điều chỉnh giảm doanh thu bao gồm:
+ Hạch toán doanh thu nhưng chưa phát sinh trách nhiệm bảo hiểm;
+ Hạch toán 2 lần một khoản phí bảo hiểm;
+ Thu phí bảo hiểm của nhiều năm phải phân bổ doanh thu nhiều năm tương ứng;
+ Giảm phí bảo hiểm hoặc hủy hợp đồng nhưng chưa điều chỉnh giảm doanh thu và chưa giảm các chi phí liên quan như hoa hồng, tiền lương phải xác định giảm các khoản trên.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ gồm: Thu về dịch vụ thanh toán; Thu về dịch vụ ngân quĩ ….

Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối: Thu từ tham gia thị trường tiền tệ; Thu từ kinh doanh ngoại hối; Thu từ các dịch vụ khác từ ngoại hối …

Thu nhập từ mua bán chứng khoán kinh doanh

Thu nhập từ mua bán chứng khoán đầu tư

Thu nhập từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần

Các khoản thu nhập khác: Thu nhập khác là những khoản thu nhập mà đơn vị không dự tính được, hoặc có dự tính nhưng ít có khả năng thực hiện, hoặc những khoản thu không mang tính chất thường xuyên như:

– Thu nhập về nhượng bán, thanh lý TSCĐ

– Thu tiền phạt vi phạm hợp đồng.

– Thu từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá nợ.

– Thu từ các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.

– Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót năm nay phát hiện ra.

– Thu hoàn nhập dự phòng đã trích từ chi phí theo qui định.

– Các khoản giảm doanh thu của đơn vị theo qui định của mỗi loại hình được kiểm toán.

5.1.3 Phương pháp kiểm toán

Trên cơ sở các văn bản pháp lý qui định về doanh thu, thu nhập của mỗi loại hình doanh nghiệp (căn cứ thu, mức thu, tỷ lệ thu, thời điểm phát hành hoá đơn, thời điểm hạch toán ghi nhận doanh thu…), KTV  xác định việc tuân thủ các qui định và kiểm tra, xác nhận số liệu:

– KTV phân chia tài khoản thu nhập theo từng nghiệp vụ để kiểm tra chi tiết từng nghiệp vụ. Kiểm tra sự có thực của các nghiệp vụ, và đảm bảo các khoản thu phải hợp pháp (hợp lý, hợp lệ và thực tế); Kiểm tra việc ghi chép hạch toán kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ bằng cách đối chiếu chứng từ gốc với sổ phụ và ngược lại.  Kiểm tra tính chính xác của số liệu bằng cách tính toán lại.

– KTV cần xem xét kỹ các tài khoản thu trong sổ kế toán và ghi nhận các sự khác biệt lớn giữa các tháng trong năm. Sau đó tìm hiểu nguyên nhân các chênh lệch lớn và các bút toán điều chỉnh. Tương tự như vậy, so sánh với năm trước và tìm hiểu kỹ xem mức độ khác biệt do khối lượng kinh doanh hay các lý do khác.

– Kiểm tra tính chất đúng đắn của việc hạch toán vào các tài khoản theo qui định. Một vấn đề rất quan trọng là KTV phải tìm kiếm các khoản thu nhập mà không được ghi chép vào sổ kế toán hoặc phản ánh sai tài khoản thu nhập. Thông thường KTV sử dụng các phương pháp sau:

+ Xem xét các nghiệp vụ ghi giảm chi phí trong kỳ.

+ Xem xét các nghiệp vụ thu tiền bất thường, hoặc có nội dung không rõ ràng.

+ Xem xét các khoản phải trả trong kỳ: nhân viên đơn vị có thể ghi chép các khoản thu nhập bất thường sang các khoản phải trả, các tài khoản trung gian, từ đó sẽ tìm cách biển thủ, hoặc phục vụ cho một ý đồ nào khác.

+ Xem xét các khoản thu năm nay còn hạch toán treo gác vào tài khoản khác hoặc phản ánh vào thu nhập năm sau.

– Kiểm toán về doanh thu thường sử dụng phương pháp chọn mẫu. Vì vậy, khi kiểm toán doanh thu ngoài việc chọn mẫu các khoản doanh thu lớn đủ để đại diện cho tổng thể, KTV cần xem xét bản chất của sự việc.

Ngoài ra, KTV cần thu thập các biên bản quyết toán thuế của cơ quan thuế trong niên độ kế toán (được kiểm toán) làm tài liệu tham khảo, đối chiếu số liệu với BCTC …

5.2 Kiểm toán chi phí

5.2.1 Mục đích kiểm toán

Kiểm toán chi phí để đưa ra sự xác nhận về các khoản chi phí trong năm tài chính của đơn vị có được trình bày một cách đầy đủ, hợp lý và trung thực trên BCTC hay không? Xác định rằng tất cả các khoản chi phí đã được áp dụng theo các nguyên tắc kế toán, được phân loại phù hợp trong BCTC; Các khoản chi phí bất thường có được phản ánh đầy đủ, trung thực không và có được phân loại chính xác không?

5.2.2 Nội dung kiểm toán

Kiểm toán để xác định tính đúng đắn, trung thực, hợp lý, hợp lệ các chi phí chủ yếu của đơn vị: Chi phí lãi và các chi phí tương tự; chi phí hoạt động dịch vụ; chi phí từ kinh doanh ngoại hối; chi phí từ mua bán chứng khoán kinh doanh; chi phí từ mua bán chứng khoán đầu tư; chi phí hoạt động khác; chi phí hoạt động; chi phí dự phòng rủi ro tín dụng; chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.

5.2.3 Phương pháp kiểm toán

Cần kiểm tra chi tiết, đối chiếu tổng hợp. Xem xét các tài khoản trong mối quan hệ  qua lại và tính kỳ hạn, thời hạn. Đi sâu vào từng nội dung:

– Kiểm tra việc chấp hành qui chế tài chính của đơn vị đã được Chính phủ ban hành và các hướng dẫn thực hiện.

– Kiểm tra việc chi trả lãi tiền gửi, tiền vay, lãi của việc phát hành các giấy tờ có giá, gắn với việc kiểm tra nguồn vốn (đối với các ngân hàng).

– Kiểm tra các khoản chi về bồi thường bảo hiểm gốc cần phải xem xét tính đầy đủ, hợp pháp của hồ sơ bồi thường theo qui tắc của từng nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt lưu ý các tài liệu sau:

+ Ảnh chụp không ghi ngày tháng, không rõ các sự cố bị hỏng vỡ, các chứng cứ xác định xe cơ giới bị tai nạn (biển số, số máy, các vết nứt, vỡ …)
+ Thiếu thông báo cho khách hàng đến nhận tiền
+ Thiếu biên bản thu hồi phụ tùng thay thế
+ Tính toán bồi thường không loại trừ các yếu tố phải loại trừ theo qui định
+ Chi bồi thường thương mại vượt mức qui định của cấp trên
+ Giá phụ tùng thay thế không hợp lý
+ Tính lôgic của các tài liệu trong hồ sơ bồi thường
+ Biên bản giám định của giám định viên độc lập trong một số trường hợp bắt buộc.

– Rà soát lại các khoản chi về nghiệp vụ thanh toán và ngân quĩ.

– Kiểm tra việc chi phí cho nhân viên:

+ Việc trích lập và sử dụng quĩ tiền lương; Việc giao kế hoạch kinh doanh, quyết toán các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh gắn với chế độ tiền lương, tiền thưởng như thế nào? KTV cần tính toán, xác định lại quĩ lương theo đơn giá tiền lương được duyệt và mức khống chế tối đa.

+ Các chi phí khác cho nhân viên trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, trợ cấp thôi việc..có đúng theo qui định không. Xác định số phải nộp theo chế độ, đối chiếu với số liệu kế toán đã trích nộp để phát hiện đúng sai.

+ Mức chi trang phục giao dịch có theo đúng tiêu chuẩn đã được qui định không. Lưu ý các trường hợp đã được hưởng tiêu chuẩn bảo hộ lao động.

– Các khoản chi về tài sản:

+ Mua sắm công cụ lao động, chi thuê tài sản…, phải có các thủ tục phê duyệt và đảm bảo theo tiêu chuẩn Bộ Tài chính qui định.

+ KTV cần kiểm tra tính đầy đủ, hợp lý, hợp lệ của hồ sơ, thủ tục (dự toán, hợp đồng thi công, quyết toán, biên bản nghiệm thu bàn giao…) và phân cấp chi tiêu, quyết toán theo điều lệ tổ chức và hoạt động, qui chế tài chính…

Kiểm tra giá trị quyết toán: so sánh khối lượng xây dựng, sửa chữa thực tế với dự toán, thiết kế; Đơn giá vật liệu, nhân công theo đơn giá XDCB tại địa phương; Các loại chi khác phải có hoá đơn, chứng từ với giá cả phù hợp với thị trường từng thời gian.

+ Đối chiếu với các qui định để xác định lại xem, trong các khoản chi về tài sản có khoản nào không phù hợp, cần thiết phải loại ra khỏi chi phí không.

– Các khoản chi khác có hợp lý và tiết kiệm không? Có phù hợp với các chế độ qui định không? Các khoản chi này phải đảm bảo đủ chứng từ hợp lệ, hợp pháp, được phê duyệt của lãnh đạo theo phân cấp và trên cơ sở định mức nhà nước qui định. Phát hiện những trường hợp đã hạch toán chi phí, nhưng thực tế chưa chi; những khoản chi không được phép hạch toán vào chi phí theo quy định hiện hành.

– Các khoản dự phòng đối với các ngân hàng (dự phòng giảm giá chứng khoán; dự phòng giảm giá vàng, ngoại tệ; dự phòng rủi ro tín dụng). Xem xét việc phân loại, xác định có phù hợp so với chế độ qui định không? Tỷ lệ trích lập có đảm bảo so với qui chế tài chính không? Việc xử lý các khoản dự phòng như thế nào? Việc hoàn nhập khi kết thúc năm tài chính có thực hiện theo các qui định không.

– Các khoản dự phòng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm (dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường; dự phòng dao động lớn; dự phòng toán học). Xem xét nguyên tắc, cơ sở trích lập các khoản dự phòng có đúng chế độ qui định không và có các tài liệu, bằng chứng hợp lý chứng minh cho việc tính toán trích lập dự phòng là phù hợp hay không?.

– Khi kiểm toán các khoản chi phí bất thường,  KTV phải kiểm tra các hồ sơ liên quan đến các khoản mục này như biên bản của hội đồng xử lý và phải được giám đốc và kế toán trưởng của đơn vị phê duyệt, các chứng từ, văn bản có liên quan ….

5.3 Kiểm toán kết quả kinh doanh

Kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị bao gồm kết quả của hoạt động kinh doanh chính (hoạt động tín dụng, hoạt động dịch vụ), kết quả hoạt động khác.

5.3.1 Mục đích kiểm toán

Kiểm toán kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị để đưa ra những đánh giá nhận xét về kết quả kinh doanh có được  phản ánh đầy đủ, trung thực trên BCTC không? Có được  phân loại và phản ánh chính xác không? Trên cơ sở đó có thể xác định lại các nghĩa vụ phải thực hiện với NSNN và việc trích lập các quĩ.

5.3.2 Nội dung kiểm toán

Việc kiểm toán kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở đã có kết quả kiểm toán của các bước kiểm toán trước: Doanh thu, chi phí chỉ còn việc thực hiện các phép tính toán và so sánh với BCTC của đơn vị.

5.3.3 Phương pháp kiểm toán

Phân tích kết quả kinh doanh, đánh giá tính hiệu quả về hoạt động kinh doanh của đơn vị.

6. Kiểm toán tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước

6.1 Mục đích kiểm toán

Xác định lại số thuế và các khoản thanh toán với NSNN của đơn vị, đã được trình bày trên BCTC có đúng, đầy đủ và kịp thời không?

6.2 Nội dung kiểm toán

+ Kiểm tra các thủ tục về kê khai và nộp các loại thuế theo đúng các qui định của pháp luật tại địa phương nơi đóng trụ sở chính và các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc.

+ Kiểm tra tính hợp pháp việc sử dụng các hoá đơn, chứng từ thuế giá trị gia tăng theo các qui định của Bộ Tài chính.

+ Phân loại các đối tượng để áp dụng các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng cho phù hợp (phương pháp tính trực tiếp: hoạt động kinh doanh mua, bán ngoại tệ, vàng bạc, đá quí; phương pháp khấu trừ: các hoạt động dịch vụ đơn vị còn lại). Trên cơ sở đó xác định số thuế và các khoản nộp NSNN đã đầy đủ chưa.

+ Xác định thuế thu nhập doanh nghiệp của đơn vị.

6.3 Phương pháp kiểm toán

Dùng phương pháp kiểm tra tính tuân thủ các luật thuế và các qui định khác về các khoản phải thanh toán với NSNN.

– Đối với các loại thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà thầu… áp dụng các phương pháp kiểm toán như đối với các Doanh nghiệp Nhà nước.

– Các khoản phí, lệ phí phải nộp NSNN: Trên cơ sở chế độ thu phí, lệ phí gắn với hoạt động kinh doanh, dịch vụ mà đơn vị phải nộp hoặc được thu hộ NSNN.  KTV xác định các khoản phí, lệ phí đơn vị phải nộp NSNN.

– Các khoản phải thanh toán với NSNN: căn cứ vào các qui định, quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ cho đơn vị, hồ sơ tài liệu và báo cáo quyết toán… để tính toán, xác định các khoản đơn vị phải nộp NSNN, hay được NSNN thanh toán đến cuối năm tài chính.

– Thuế giá trị gia tăng, căn cứ vào Luật thuế GTGT, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật thuế GTGT và Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT để kiểm toán, theo quy định hiện hành thì các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng là hoạt động cho vay vốn, cho thuê tài chính, quĩ đầu tư và hoạt động chuyển nhượng vốn theo quy định của pháp luật.

Các đối tượng chịu thuế thuế giá trị gia tăng gồm:

+ Dịch vụ tín dụng đơn vị: Mở tài khoản; Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá trị khác; Dịch vụ bảo lãnh có thu phí; Dịch vụ thanh toán; Nghiệp vụ uỷ thác và đại lý liên quan đến hoạt động đơn vị; Dịch vụ bảo quản, cho thuê tủ, két, cầm đồ; Các hoạt động dịch vụ khác.

+ Kinh doanh mua, bán ngoại tệ; Kinh doanh mua, bán vàng bạc, đá quí.

Khi kiểm toán tình hình thu nộp NSNN, cần chia ra hai thời điểm năm trước và năm kiểm toán:

Xác định số thuế và các khoản còn phải thanh toán với NSNN năm trước bằng cách đối chiếu số đầu kỳ trên BCTC, với biên bản quyết toán thuế năm trước của cơ quan thuế về từng loại thuế và các khoản phải nộp khác; Kiểm tra hồ sơ, biên bản đối chiếu, xác nhận về các khoản thanh toán khác với NSNN.

Xác định số thuế và các khoản còn phải nộp khác phát sinh trong kỳ, xác định số thuế và các khoản khác đã nộp trong năm, trên cơ sở đó để xác định số nộp thừa, thiếu đến cuối năm.

+ Riêng đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT) cần xác định:

w Theo phương pháp khấu trừ:

Số thuế GTGT           Thuế GTGT         Thuế GTGT đầu vào

phải nộp        =          đầu ra        –          được khấu trừ

Thuế GTGT đầu ra  =  Giá tính thuế   x  thuế suất

Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là số thuế GTGT đầu vào được xác định trên các hoá đơn GTGT của số hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho hoạt động kinh doanh dịch vụ chịu thuế ( được tổng hợp, kê khai, khấu trừ ngay từng tháng); Đơn vị phải hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào của số hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho hoạt động kinh doanh dịch vụ không chịu thuế GTGT. Trường hợp đơn vị không hạch toán riêng được, thì phải phân bổ theo tỷ lệ trên tổng doanh thu.

Kiểm toán thuế GTGT đầu ra bằng cách: Phân loại hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ đã ghi giá bán chưa tính thuế GTGT, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp trên hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán.

w Theo phương pháp trực tiếp:

Thuế GTGT phải nộp   =   Giá trị gia tăng  x  thuế suất.

Giá trị gia tăng = Doanh số bán ra (ngoại tệ, vàng bạc…)  –  Doanh số mua vào tương ứng của số (ngoại tệ, vàng bạc…) bán ra.

Doanh số mua vào tương ứng của số (ngoại tệ, vàng bạc…) bán ra được xác định = Số lượng bán ra x Tỷ giá mua thực tế bình quân trong kỳ ( tháng)

Trường hợp chênh lệch giữa doanh số bán ra với doanh số mua vào tương ứng là số âm, thì được chuyển sang bù trừ vào tháng sau, nhưng chỉ được áp dụng đối với các tháng trong cùng một năm.

Xác định số thuế, phí, lệ phí và các khoản phải thanh toán với NSNN đã nộp trong kỳ:

Việc kiểm toán số đã nộp trong kỳ, được xác định qua các chứng từ  nộp tiền vào NSNN, đã được cơ quan quản lý và Kho bạc Nhà nước trên địa bàn xác nhận, hoặc các biên bản thanh toán, đối trừ.

Số còn phải nộp đến cuối kỳ: Căn cứ vào kết quả đã tính toán xác nhận của nội dung kiểm toán thuế và các khoàn phải nộp NSNN để xác định số thuế nộp đủ, thừa hoặc thiếu, trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét về việc chấp hành nghĩa vụ với NSNN, việc tổ chức hạch toán có đầy đủ, rõ ràng và nộp kịp thời hay không?

III. LẬP VÀ GỬI BÁO CÁO KIỂM TOÁN

Trình tự, thủ tục thực hiện bước lập và gửi báo cáo kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng được thực hiện theo Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 04/2007/QĐ-KTNN ngày 02/8/2007 của Tổng KTNN. Báo cáo kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng được lập theo mẫu quy định của Tổng kiểm toán Nhà nước, gồm những nội dung cơ bản sau:

1. Phần mở đầu của Báo cáo kiểm toán

– Tiêu đề của Báo cáo kiểm toán

– Căn cứ kiểm toán

Trình bày các căn cứ tiến hành kiểm toán Các tổ chức tài chính – ngân hàng theo quy định hiện hành,

– Nội dung kiểm toán

Ghi theo quyết định kiểm toán.

– Phạm vi và giới hạn kiểm toán

+ Phạm vi kiểm toán: Báo cáo kiểm toán ghi rõ các BCTC được kiểm toán, ngày lập BCTC; niên độ tài chính được kiểm toán; trách nhiệm lập BCTC; các lĩnh vực hoạt động được kiểm toán; các đơn vị được kiểm toán.

+ Giới hạn kiểm toán: Ghi rõ những nội dung, lĩnh vực hoạt động không kiểm toán và lý do không thực hiện.

– Các công việc đoàn kiểm toán đã thực hiện

+ Báo cáo kiểm toán phải ghi rõ công việc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo kế hoạch, đảm bảo tuân thủ chuẩn mực và quy trình kiểm toán của KTNN.

+ Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ các công việc đã được thực hiện, gồm:

Các phương pháp kiểm toán (chọn mẫu, thử nghiệm cơ bản,…); đánh giá việc tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận); các nguyên tắc và phương pháp kế toán được áp dụng để lập BCTC; đánh giá các ước tính và xét đoán quan trọng đã được người đứng đầu đơn vị được kiểm toán thực hiện khi lập BCTC; đánh giá việc trình bày toàn bộ tình hình tài chính trên các BCTC.

Báo cáo kiểm toán phải khẳng định là các công việc kiểm toán của đoàn kiểm toán đã cung cấp đủ cơ sở hợp lý làm căn cứ cho ý kiến của kiểm toán viên và Đoàn kiểm toán.

2. Kết quả kiểm toán

– Kết quả kiểm toán về các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính được kiểm toán, nêu rõ số liệu xác nhận của Đoàn kiểm toán và giải thích nguyên nhân cụ thể đối với số chênh lệch giữa số liệu xác nhận của Đoàn kiểm toán và số liệu báo cáo của đơn vị được kiểm toán.

– Trình bày các phát hiện kiểm toán mang tính trọng yếu về tính tuân thủ chuẩn mực kế toán, quy định pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra ý kiến của KTV và Đoàn kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của BCTC.

– Nhận xét và đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn và hiệu quả hoạt động của đơn vị.

3. Kết luận và kiến nghị kiểm toán

Kết luận theo từng nội dung kiểm toán và kết quả kiểm toán.

Căn cứ vào kết quả kiểm toán và những nhận xét, đánh giá ở phần trên để đưa ra các kiến nghị phù hợp với thẩm quyền của từng cấp cụ thể.

* Với đơn vị được kiểm toán

– Kiến nghị xử lý tài chính theo kết quả kiểm toán.

– Kiến nghị về chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, kế toán, tín dụng ở đơn vị.

– Kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.

– Kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp.

– Kiến nghị về xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân.

* Với cơ quan quản lý cấp trên

* Với các cơ quan quản lý nhà nước (các bộ, ngành)

* Với Quốc hội, Chính phủ (nếu có)

IV. KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ KIỂM TOÁN

Thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật Kiểm toán nhà nước và Chương V Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Việc kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán được thực hiện theo hai hình thức sau:

– Yêu cầu đơn vị được kiến nghị báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán;

– Tổ chức kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán và cơ quan, tổ chức có liên quan.

Cụ thể gồm các công việc sau:

1. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán

Đơn vị được giao chủ trì kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán có trách nhiệm:

1.1. Mở sổ theo dõi tình hình gửi báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán trong năm theo mẫu quy định của Kiểm toán Nhà nước;

1.2. Đôn đốc các đơn vị thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và yêu cầu đơn vị báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán đúng thời gian quy định trong biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán.

2. Lập kế hoạch kiểm tra và thông báo cho đơn vị được kiểm toán

2.1. Căn cứ tầm quan trọng của các kết luận, kiến nghị kiểm toán, độ tin cậy của báo cáo thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán của đơn vị được kiểm toán đơn vị được giao chủ trì kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghi kiểm toán có trách nhiệm lập kế hoạch kiểm tra trình lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước (qua Vụ Tổng hợp) xem xét, phê duyệt trước ngày 01 tháng 4 hàng năm.

2.2. Đơn vị chủ trì kiểm tra có trách nhiệm gửi thông báo kiểm tra cho đơn vị được kiểm tra biết về kế hoạch kiểm tra trước khi tổ chức triển khai công tác kiểm tra.

3. Tiến hành kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán

Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra, thông báo kiểm tra, tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tại các đơn vị.

3.1. Nội dung kiểm tra thực hiện báo cáo kết luận, kiến nghị kiểm toán.

– Kiểm tra thời hạn nộp báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán so với quy định tại Biên bản kiểm toán và Báo cáo kiểm toán.

– Kiểm tra nội dung báo cáo của đơn vị (nếu có) về kết quả thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước.

– Kiểm tra việc điều chỉnh sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán; việc xử lý số liệu theo kiến nghị kiểm toán; việc chấn chỉnh, khắc phục sai sót, yếu kém trong công tác quản lý tài chính kế toán tại đơn vị đã nêu trong biên bản kiểm toán và báo cáo kiểm toán.

– Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán về thời gian, nội dung, kết quả những công việc mà đơn vị đã thực hiện.

– Thu thập các bằng chứng về việc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán của các đơn vị làm cơ sở lập biên bản xác nhận số liệu, biên bản kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán như giấy nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước, phiếu thu tiền, văn bản ban hành để xử lý, khắc phục các kiến nghị về chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, kế toán…

3.2 Lập biên bản xác nhận số liệu và biên bản kiểm tra kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán

– Đối với các đơn vị thuộc và trực thuộc của đơn vị được kiểm tra, tổ kiểm tra lập biên bản xác nhận số liệu và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo mẫu quy định.

– Đối với đơn vị được kiểm tra, tổ kiểm tra căn cứ vào các biên bản xác nhận số liệu tại các đơn vị thuộc, trực thuộc và tình hình kiểm tra thực tế tại đơn vị được kiểm tra để lập biên bản kiểm tra kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo mẫu quy định.

3.3 Hồ sơ kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán

Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của mỗi đơn vị được kiểm tra bao gồm:

– Kế hoạch kiểm tra, thông báo kiểm tra, báo cáo thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của đơn vị;

Các tài liệu về kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo mẫu quy định;

– Các bằng chứng và tài liệu thu thập được trong quá trình kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán và các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán.

Hồ sơ kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán được lưu trữ cùng với hồ sơ kiểm toán của đơn vị đó.

4. Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán.

Đơn vị chủ trì kiểm tra căn cứ vào các biên bản kiểm tra kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán đã thực hiện để lập báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo mẫu quy định, báo cáo Tổng Kiểm toán Nhà nước trước ngày 10 tháng 12 hàng năm.

Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán gồm các nội dung cơ bản sau:

– Tổng hợp kết quả về số liệu, tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán từ các Biên bản kiểm tra và báo cáo thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán do các đơn vị được kiểm toán báo cáo;

– Đánh giá việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của đơn vị được kiến nghị;

– Những tồn tại mà đơn vị chưa thực hiện được, phân tích những nguyên nhân và kiến nghị với lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước các biện pháp xử lý tiếp theo;

– Kiến nghị xử lý những đơn vị không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kết luận, kiến nghị kiểm toán;

– Trường hợp các đơn vị được kiến nghị gửi báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán có những nội dung không thực hiện vì có ý kiến trái ngược với kết luận kiểm toán, thì phải kiểm tra, xác định rõ nguyên nhân và báo cáo với lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước cụ thể từng nội dung, từng đơn vị.

   
     
     

 

  ngocxit2020 (21/09/2008 08:05 AM)   Có ích: 0/0 Có íchKhông có ích    
 
 
 

© SAGA – Phân biệt khái niệm –  Khái niệm quy trình kiểm toán và chương trình kiểm toán khác nhau mà.Quy trình kiểm toán: là các bước/giai đoạn từ khi bắt đầu đến khi kết thúc kiểm toán. VD Quuy trình Kiểm toán của Cty Kiểm toán và Tư vấn TC IFC gồm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn 2: Thu thập và tổng hợp thông tin
Giai đoạn 3: Thực hiện kiểm toán
Giai đoạn 4: Chuẩn bị và phát hành Báo cáo Kiểm toán

Chương trình Kiểm toán: là chi tiết công việc cần thực hiện và thời gian hoàn thành đối với các khoản mục hoặc bộ phận cần kiểm toán. Nó bao gồm các thủ tục Kiểm toán cụ thể =thử nghiệm kiểm soát + thử nghiệm cơ bản.

 
     
     

 

  hoahongelios (14/08/2008 09:48 AM)   Có ích: 0/0 Có íchKhông có ích    
 
 
 

© SAGA – Kiểm toán Vốn bằng tiền… –  Em đang làm bài tập nhóm… tên đề tài là: Những quy định vụ thể về kiểm toán Vốn bằng tiền. Bác nào có tài liệu post lên giùm em với hoặc gửi giúp em vào: hoahongelios@gmail.com. Em cảm ơn nhiều…

 
     
     

 

  maickhy (20/05/2008 09:13 AM)   Có ích: 0/0 Có íchKhông có ích    
 
 
 

© SAGA – Hỏi xin tài liệu –  Mình có học kiểm toán nhưng cũng chỉ có mấy trình, giảng viên lại cho làm rất ít bài tập mà giáo trình thì không có, giờ mình chẳng biết gì cả. Mình muốn kiếm chuẩn mực, giáo trình, và các bài tập về kiểm toán. Ai biết xin chỉ cho mình cách tìm hoặc gửi về hòm thư maihugaco2007@yahoo.com.vn cho mình nhé. Cảm ơn mọi người nhiều.

 
     
     

 

  tetsu (15/02/2008 09:38 AM)   Có ích: 1/1 Có íchKhông có ích    
 
 
 

© SAGA – kiểm toán nội bộ –  Mình đang làm luận văn về kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp xây dựng nhưng không tìm được số liệu thực tế về phần này. Các bạn có ai có biết có doanh nghiệp xây dựng nào đã tiến hành công việc này rồi làm ơn chỉ giáo hoặc gửi về trangxd8006@yahoo.com Xin cảm ơn nhiều nhiều.

 
     
     

 

  nhoccon (08/11/2007 02:54 PM)   Có ích: 1/1 Có íchKhông có ích    
 
 
 

Mình muốn hỏi hối phiếu ngân hàng là gì? Ai phát hành? Chuyển bằng hình thức gì? Nói chung là tất cả các vấn đề liên quan đến hối phiếu ngân hàng. Thanks!

 
     
     

 

  QUICK07072002 (01/06/2007 05:00 PM)   Có ích: 4/4 Có íchKhông có ích  
 
 
 

Mình gửi tieu_linh85  qui trình kiểm toán theo chuân mực kế toán VAS số 300 bạn tham khảo nhé

phụ lục số 03 ( chuẩn mực số 300)
mẫu chương trình kiểm toán

Công ty kiểm toán:

Chương trình kiểm toán

1. Phần tổng hợp……………………………………… Tham chiếu…………………………………………………… A

2. Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ…………………………………………………………………………….. B

3. Vốn bằng tiền …………………………………………………………………………………………………………… C

4. Các khoản đầu tư ngắn hạn………………………………………………………………………………………….. D

5. Các khoản phải thu…………………………………………………………………………………………………….. E

6. Hàng tồn kho…………………………………………………………………………………………………………….. F

7. Tài sản lưu động khác…………………………………………………………………………………………………. G

8. Chi sự nghiệp……………………………………………………………………………………………………………. H

9. TSCĐ hữu hình…………………………………………………………………………………………………………. I

10. TSCĐ vô hình và TSCĐ khác…………………………………………………………………………………….. J

11. Các khoản đầu tư dài hạn………………………………………………………………………………………….. K

12. Chi phí XDCB dở dang…………………………………………………………………………………………….. K

13. Cầm cố, ký cược, ký qũy dài hạn………………………………………………………………………………… M

14. Các khoản phải trả ngắn hạn………………………………………………………………………………………. N

15. Các loại thuế…………………………………………………………………………………………………………… O

16. Vay và nợ dài hạn ……………………………………………………………………………………………………. P

17. Nguồn vốn, qũy và lợi nhuận chưa phân phối…………………………………………………………………. Q

18. Nguồn kinh phí………………………………………………………………………………………………………… R

19. Doanh thu……………………………………………………………………………………………………………….. S

20. Giá vốn hàng bán……………………………………………………………………………………………………… T

21. Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp ……………………………………………………………… U

22. Thu nhập khác…………………………………………………………………………………………………………. V

23. Chi phí khác………………………………………. ………………………………………………………………….. X

24. Khác……………………………………………………………………………………………………………………… W
Công ty kiểm toán:

Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền

Tên khách hàng: ………………………………………………Năm Tài chính:………………………………………..

Trưởng nhóm kiểm toán:…………………………………..Ngày:……………………………………………………..

Những người trong nhóm kiểm toán:…………………………………………………………………………………..

Người soát xét 1:………………………………………………Ngày:……………………………………………………

Người soát xét 2:………………………………………………Ngày:……………………………………………………

I- Tài liệu yêu cầu khách hàng cần chuẩn bị:

1/ Biên bản kiểm kê cuối kỳ

(Trường hợp kiểm toán viên không chứng kiến việc kiểm kê tại thời điểm kiểm kê thì cần thiết phải phối hợp với khách hàng tổ chức kiểm kê bất thường tại thời điểm kiểm toán và cộng (+), trừ (-) lùi để xác định lại số dư thực tế tại thời điểm kết thúc năm tài chính).

2. Cơ sở giải quyết chênh lệch (Nếu có chênh lệch khi kiểm kê)

3. Bản xác nhận số dư của các tài khoản tại Ngân hàng

4. Sổ phụ Ngân hàng

5. Sổ cái

6. Sỗ qũy

7. Sổ chi tiết Tiền mặt và sổ chi tiết Tiền gửi Ngân hàng

8. Các loại giấy tờ có liên quan

II- Mục tiêu kiểm toán
– Hiện hữu, đầy đủ, chính xác:
Số dư vốn bằng tiền phản ánh tất cả các khoản tiền có trong qũy, tại ngân hàng, đang chuyển là có thực và được ghi chép đúng và đầy đủ

– Quyền hạn và nghĩa vụ:
Tất cả các khoản hiện có thuộc sở hữu của công ty

– Đánh giá:
Số dư vốn bằng tiền phản ánh trên Bảng cân đối kế toán được đánh giá đúng đắn

– Trình bày và công bố:
Số dư vốn bằng tiền phải được trình bày, phân loại và công bố đầy đủ

III- Thủ tục kiểm toán :
Trình tự kiểm toán
Tham chiếu
Ngoại tệ
Người thực hiện ký

Có không
Đã làm rõ

A. Thủ tục phân tích

1. Sự biến động chỉ tiêu tiền mặt, tiền gửi ngân hàng qua các năm

2. Tìm hiểu hệ thống thanh toán của đơn vị chủ yếu qua Ngân hàng hay bằng tiền mặt

3. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ về phần vốn bằng tiền của đơn vị xem có đảm bảo các nguyên tắc sau:
– Nguyên tắc phân công phân nhiệm
– Bất kiêm nhiệm
– Phê chuẩn, phân cấp quản lý đối với tiền mặt

B. Thủ tục kiểm toán chi tiết

I- Tiền mặt

1. Đối chiếu giữa biên bản kiểm kê với Sổ Qũy, sổ chi tiết và Sổ Cái để đảm bảo số dư đã được trình bày trên Bảng Cân đố kế toán là hợp lý.

2. Đọc lướt qua Sổ Qũy để phát hiện những nghiệp vụ bất thường và tiến hành kiểm tra, đối chiếu với các chứng từ gốc để đảm bảo việc trình bày là đúng và phù hợp.

3a. Chọn…. tháng bất kỳ và mỗi tháng chọn…….nghiệp vụ trên Sổ Cái (hoặc sổ chi tiết) để đối chiếu sự khớp đúng giữa sổ kế toán và chứng từ gốc về nội dung, ngày, tháng, số tiền. Đồng thời kiểm tra sự chấp thuận của người có thẩm quyền của khách hàng.

· Nếu kết quả tốt: Chấp nhận

· Nếu kết quả xấu: Mở rộng phạm vi kiểm tra chi tiết

3b. Chọn……….. tháng bất kỳ và mỗi tháng chọn……. chứng từ để đảm bảo việc ghi sổ (sổ qũy, sổ chi tiết và Sổ Cái) là phù hợp.

4. Chọn…. nghiệp vụ trước ngày kết thúc niên độ và …. nghiệp vụ sau ngày kết thúc niên độ để kiểm tra thủ tục phân chia niên độ của khách hàng là đúng đắn và phù hợp.

II- Tiền gửi Ngân hàng và Tiền gửi đang chuyển

1. Xem xét có tài khoản nào được xác nhận mà đã hết số dư từ năm trước không. Bất kỳ tài khoản nào cũng đều phải được xác nhận

2. Lập bảng đối chiếu số dư ngân hàng.

a. Kiểm tra cộng dồn. Xem xét các khoản bất thường (có giá trị lớn).

b. Đối chiếu số dư trên sổ chi tiết với Sổ Cái và sổ phụ ngân hàng vào ngày kết thúc năm tài chính.

c. Kiểm tra bảng đối chiếu của 2 tháng bất kỳ đối với từng tài khoản để xem xét các khoản bất thường và xác định lại thời gian, tính chính xác. Đồng thời, kiểm tra sự chấp thuận của người có thẩm quyền.

3. Thu thập thư xác nhận của ngân hàng và kiểm tra ghi nhận trong sổ kế toán của đơn vị.
– Giải thích các khỏan chênh lệch nếu có tại thời điểm khóa sổ
– Kiểm tra lại tất cả các khoản tiền gửi chưa được ghi vào ngày cuối kỳ với sổ phụ ngân hàng sau ngày khóa sổ.

4. Xem xét khoản tiền đang chuyển được liệt kê phản ánh trong “Tiền đang chuyển” là hợp lý (xem xét khoản tiền có giá trị lớn).

a. Đối chiếu với sổ Tiền gửi ngân hàng, phiếu chuyển tiền ngân hàng về ngày, số tiền, diễn giải.

b. Đối chiếu với sổ phụ ngân hàng cuối năm, phân chia niên độ về ngày, số tiền, diễn giải. Ghi chú các khoản tiền gửi được ngân hàng phản ánh sau ngày kết thúc năm tài chính.

c. Xem xét các khoản tiền gửi được ngân hàng ghi chép trong khoảng thời gian hợp lý (1-2 ngày sau ngày đơn vị ghi sổ).

d. Xem xét báo cáo tài chính năm trước và giấy tờ làm việc năm nay để thấy được các dữ liệu đối chiếu đã có trong hồ sơ.

C. Thủ tục kiểm toán bổ sung
– Xem xét các khoản số dư ngoại tệ đã được đánh giá theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng tại ngày kết thúc năm tài chính.
– Các thủ tục khác (nếu có)
………………………………………………………………………..

IV- Kết luận và kiến nghị:

A. Kết luận về mục tiêu kiểm toán:
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..

B- Kiến nghị:
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..

C- Các vấn đề cần tiếp tục theo dõi trong những đợt kiểm toán sau:
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………………………………………………..

Ngày hoàn thành:…………………………………………..

Người thực hiện: …………………………………………..

(Trích phụ lục số 03 ( chuẩn mực số 300 ))

 


Mẫu dự báo tài chính doanh nghiệp

11.01.2011

Với doanh nghiệp, việc dự báo tình hình tài chính chính là việc lên kế hoạch tài chính – là quá trình tính toán và ước lượng tình trạng tài chính trong tương lai của một hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh này có thể là một doanh nghiệp, một dự án mới, một phương án đầu tư,…

Lập kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch tài chính của công ty hàng năm là một công việc quan trọng đối với hầu hết những nhà quản trị doanh nghiệp. Thậm chí, kết quả cuối cùng của kế hoạch tài chính này đôi khi lại không quan trọng bằng quá trình ta thực hiện việc tính toán và dự báo. Bởi, trong quá trình chuẩn bị kế hoạch này bạn cũng tự nhận thức được những vấn đề bạn có thể sẽ đối mặt trong tương lai và xác định cho mình một lộ trình để đi tiếp.

Ta có thể tự xây dựng một kế hoạch tài chính bằng các tính toán thủ công hoặc cũng có thể nhờ sự trợ giúp của các phần mềm và công việc duy nhất của người lập là cung cấp số liệu. Thông thường các kế hoạch tài chính tồn tại ở dạng bảng excel. Người ta cùng thường tự làm các bảng này hơn là sử dụng máy móc, nguyên nhân như đã nói ở trên, quá trình chuẩn bị, tính toán thường mang lại nhiều giá trị và hiểu biết hơn là kết quả cuối cùng.

Hiện nay những tổ chức tài chính, các trường đại học và các đơn vị hỗ trợ kinh doanh thường phát triển các bảng tính toán mẫu, trong đó đã thiết lập khung, các liên kết thông số và hệ thống giả định có khả năng điều chỉnh để người sử dụng có thể tham khảo, thậm chí điều chỉnh những hệ số bên trong và sử dụng chính cho mình.

Những mục tiêu cần nhắm đến khi ta tiến hành xây dựng một bản kế hoạch tài chính:

  • Đầu tiên, kế hoạch tài chính cần truyền đạt được mục đích vận hành của công ty thành những mục tiêu cụ thể. Nói cách khác, nó phải định nghĩa được rõ những kết quả cụ thể nào (bao nhiêu) thì được coi là đạt mục đích. Nhiều người nghĩ kế hoạch là dạng dự báo, điều này không sai, tuy nhiên nếu được xây dựng tốt với toàn bộ tâm huyết, kế hoạch tài chính còn mang ý nghĩa quan trọng hơn – nó là một sự cam kết nhắm đến đạt mục tiêu đã đề ra trên cơ sở những mốc cụ thể đã thiết lập qua kế hoạch.
  • Thứ hai, bản kế hoạch tài chính cho ta một công cụ nhận phản hồi và điều chỉnh. Bản chất của kế hoạch là dự báo, sai lệch, điều chỉnh là không thể tránh khỏi, thậm chí những sai lệch còn tốt ở khía cạnh nó cung cấp những tín hiệu cảnh báo cho ta về các vấn đề tiềm tàng có khả năng phát sinh. Khi có sai lệch khỏi các thông số đã tính toán, kế hoạch tài chính cho phép ta xác định chính xác tác động tài chính của những sai lệch cũng như ảnh hưởng của các hành động điều chỉnh.
  • Thứ ba, kế hoạch được chuẩn bị tốt là công cụ dể dự báo vấn đề có thể phát sinh. Chẳng hạn nếu doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh làm phát sinh hiện tượng thiếu hụt tiền mặt do có nhiều hàng trong kho hoặc do lượng tiền bị ứ trong các tài khoản phải thu quá lớn,… những điểm này sẽ được phản ánh toàn bộ và chi tiết trong kế hoạch kinh doanh. Nếu doanh thu hay chi phí năm sau phụ thuộc vào một thông số quan trọng trong năm trước đó thì quan hệ này sẽ được mô tả chi tiết trong phần giả thiết mô hình.

Có nhiều dạng kế hoạch tài chính khác nhau, tùy thuộc nhu cầu và tính huống lên kế hoạch. Chẳng hạn:

  • Kế hoạch ngắn hạn 12 tháng, phục vụ hoạt động kinh doanh ngắn hạn và mang tính chiến thuật.
  • Kế hoạch dài hạn, cho ba đến năm năm hoặc lâu hơn, mang tính chiến lược dài hạn, gắn liền và thích ứng với chiến lược chung của toàn doanh nghiệp.
  • Lập dự toán ngân sách, thường cho một năm.
  • Dự báo tiền mặt. Bản kế hoạch này chẻ nhỏ kế hoạch ngân sách và dự báo 12 tháng thành các chỉ tiêu cụ thể hơn, tập trung vào dòng tiền.

Kế hoạch tài chính thường bao hàm cả các bảng dự báo cân đối kế toán và dự báo kết quả kinh doanh cho các năm lên kế hoạch. Với người khởi nghiệp, nhà quản trị doanh nghiệp, kế hoạch tài chính có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định và quản trị hoạt động vận hành của doanh nghiệp, đảm bảo doanh nghiệp đi đúng hướng và hạn chế rủi ro đối mặt với những khó khăn tài chính có khả năng lường trước.

Ở góc độ ngược lại, kế hoạch tài chính cũng có ý nghĩa với nhà đầu tư. Với những thông tin công bố của một doanh nghiệp cùng những thông tin chung về ngành và những giả thiết hợp lý, nhà đầu tư cũng có thể thiết lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp. Ở đây, nó nên được gọi là dự báo tài chính có lẽ sẽ chính xác hơn. Với bản dự báo tài chính này, một nhà đầu tư với đầy đủ kiến thức sẽ có cái nhìn sâu và chi tiết vào năng lực hiện tại cũng như tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, kết quả tính toán tốt trong bản dự báo là những thông số rất tốt cho các phân tích mở rộng về doanh nghiệp, cụ thể hơn là về cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp.

Dưới đây xin chia sẻ với các bạn một bản khung kế hoạch kinh doanh do TS. Vương Quân Hoàng cung cấp, nằm trong nội dung giảng dạy MBA của TS. Hoàng.

Mẫu lập kế hoạch kinh doanh được giới thiệu bao gồm có các bảng:

Bảng kết quả chính:

INCOME: Báo cáo kết quả sản xuất (chung và theo tháng, quý)
BALANCE: Bảng cân đối kế toán
CASHFLOW: Bảng lưu chuyển tiền tệ (chung và theo tháng, quý)

Các bảng tính phụ:

COMPS:  So sánh các chỉ tiêu tài chính cơ bản với các công ty tương tự
REVENUE: Dự báo doanh thu
COST OF REV: Chi phí hàng bán
OPER EXPEN: Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh
PROP & EQUIP: Chi tiêu vốn, khấu hao và tài sản cố định thuần ròng
SALARIES: Lương nhân viên
EXTRA: Thu và chi bất thường
TAXES: Tính thuế
WORKCAP: Vốn lưu động
FUNDING: Vốn chủ, nợ, chi phí trả lãi, thu từ lãi, cổ tức và lợi nhuận để lại

Bước đầu tiên để tiến hành là phải so sánh các chỉ tiêu và xác lập giả định mô hình. Trong bước này người xây dựng kế hoạch sẽ cần phải so sánh các doanh nghiệp tương đồng hoặc tra cứu để có được những thông số đặc trưng ngành cùng với các giả định để đưa các thông số này vào quá trình tính toán

COMPS.jpg

Bước tiếp theo của người lập kế hoạch là tiến hành dự báo doanh thu.

Trong bước này sẽ phải xác định, đánh giá và ước lượng những nhân tố chủ chốt tác động đến doanh thu của doanh nghiệp/dự án

  • Số lượng khách hàng, số lượng giao dịch, số lượng hàng bán
  • Giá áp dụng với mỗi khách hàng, mỗi giao dịch, mỗi đơn vị sản phẩm
  • Doanh thu bình quân mỗi khách hàng/mỗi giao dịch
  • Chiết khấu cho các kênh phân phối
  • Mức độ thâm nhập thị trường
  • Mức độ phản hồi từ thị trường
  • Tỉ lệ khách hàng ra đi
  • Tỉ lệ tăng trưởng
  • Sản phẩm/Dịch vụ mới

Ngoài ra cũng cần xem xét đến

  • Thời điểm tung ra sản phẩm/dịch vụ
  • Tỉ lệ tăng trưởng trong năm
  • Tính thời vụ
  • Thời điểm có thể nhận được đơn đặt hàng

REVENUE.jpg

Bước tiếp theo là xác định chi phí nhân sự.

Những nhân sự cơ bản thường phải tính đến bao gồm
[a] Bán hàng và Marketing
[b] Nghiên cứu và Phát triển
[c] Hành chính tổng hợp
[d] Chi phí hàng bán (Cost of revenue)

Trong đó sẽ cần xác định những tiêu chí cụ thể sau với từng nhóm nhân sự

[a] Vị trí, chức vụ
[b] Số lượng người
[c] Thời điểm sẽ tuyển dụng
[d] Lương/tiền công dự kiến

PERSONEL1.jpg

 

PERSONEL2.jpg

 

PERSONEL3.jpg

Ước tính tài sản và trang thiết bị

1. Dự tính mức chi tiêu vốn (capital expitures) cho khoảng thời gian dự báo. Lưu ý:
2. Ước lượng mức tăng trưởng chi tiêu vốn
3. Xác định khoảng thời gian trước khi hết khấu hao của khoản chi tiêu

Propequip1.jpg

Propequip2.jpg

Ước tính chi phí hàng bán

Ở bước này sẽ cần xác định những yếu tố chính tác động đến chi phí cung cấp sản phẩm/dịch vụ

[a] Chi phí nhân sự – lấy từ bảng tính chi phí nhân sự
[b] Khấu hao từ những khoản chi tiêu vốn (capital expitures) lớn (số liệu lấy từ bảng tính tài sản và trang thiết bị)
[c] Chi phí nguyên vật liệu
[d] Khả năng tái chế/tái sử dụng
[e] Chi phí vận hành website
[f] Chi phí hệ thống
[g] Chi phí lưu kho và vận chuyển
[h] Chi phí bảo hành/bảo dưỡng
[i] Lợi suất
[j] Chi phí thuê ngoài (Outsourcing)
[k] Chi phí thuê và/hoặc cho thuê
[l] Giảm chi phí
[m] Hiệu suất

Thông thường, người ta ước lượng các khoản chi phí khác theo tỉ lệ % của doanh thu.

COST_OF_REV1.jpg

COST_OF_REV2.jpg

Ngoài chi phí hàng bán, sẽ cần phải xác định một loại chi phí khác, gọi là chi phí vận hành kinh doanh, không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nhưng có ý nghĩa trong việc hỗ trợ bán hàng, bao gồm

1 Chi phí bán hàng và Marketing

  • Chi phí nhân sự (lấy từ bảng tính nhân sự)
  • Chi phí thu hút/thâu tóm khách hàng
  • Hoa hồng doanh thu
  • Triển lãm, giới thiệu sản phẩm
  • Xây dựng thương hiệu
  • Catalog, Brochure, tài liệu giới thiệu
  • Dịch vụ khách hàng
  • Hỗ trợ kỹ thuật

2 Nghiên cứu và phát triển

  • Chi phí nhân sự
  • Kiểm định Beta
  • Time to market
  • Chi phí sử dụng Patent và độc quyền
  • Chi phí thử nghiệm
  • Hợp đồng phụ (subcontracting)

3 Hành chính tổng hợp

  • Chi phí nhân sự
  • Khấu hao (số liệu từ bảng tính tài sản và trang thiết bị)
  • Chi phí pháp lý, kế toán và các dịch phụ phải trả phí khác
  • Phí chuyển khoản
  • Chi phí tuyển dụng
  • Chi phí MIS
  • Chi phí thuê văn phòng và tiện ích

OperExpense1.jpg

OperExpense2.jpg

Ngoài ra, người lập kế hoạch sẽ còn phải tính đến những chi phí khác và các khoản thu-chi bất thường

Bước quan trọng tiếp theo, có ý nghĩa quan trọng tới hiệu quả vận hành của bất kỳ doanh nghiệp nào, là đánh giá vốn lưu động

1. Tài khoản phải thu:

  • Xác định tài khoản phải thu dưới dạng % doanh thu. Tỉ lệ % này được ước lượng thông qua so sánh với các công ty tương đương.
  • Số ngày cho nợ bình quân được tính bằng tỉ lệ nói trên nhân với 360
  • Số liệu cơ bản lấy từ bảng tính tài khoản phải thu theo tháng và quý
  • Mô hình minh họa chỉ tính cho tài khoản phải thu có thời hạn nợ tối đa 120 ngày. Với thời gian nợ cao hơn cần điều chỉnh công thức hoặc chính sách nợ.

2. Lưu kho

  • Xác định giá trị lưu kho mỗi năm dưới dạng % doanh thu, ước lượng thông qua so sánh các công ty tương đương
  • Số liệu lấy từ bảng tính giá trị lưu kho theo tháng và quý
  • Mô hình minh họa áp dụng cho số vòng quay lưu kho tối thiểu là 3. Cần điều chỉnh công thức nếu số vòng ít hơn

Vốn lưu động bao gồm (i) Tài sản ngắn hạn (Current Assets) khác: ước lượng dưới dạng % doanh thu và (ii) Tài khoản phải trả và chi phí cộng dồn (Accrued Expenses); và (iii) Nghĩa vụ nợ ngắn hạn (Current Liabilities) khác: theo % doanh thu và mô hình minh họa áp dụng giới hạn 120 ngày

WORKCAP1.jpg

WORKCAP2.jpg

WORKCAP3.jpg

WORKCAP4.jpg

Tính toán vốn cần huy động

  1. Dựa vào bảng dự báo lưu chuyển tiền tệ để xác định lượng vốn cần thiết. Quyết định hình thức huy động nào phù hợp (vốn chủ, vốn vay).
  2. Doanh nghiệp mới thành lập thường buộc phải có vốn chủ trong năm đầu hình thành
  3. Quyết định sử dụng vốn vay cần đi liền lựa chọn hình thức vay, thời hạn, cách thức chi trả, lãi suất
  4. Thu từ lãi (Interest Income) tính bằng cách nhân lãi suất tín phiếu kho bạc với lượng tiền chênh lệch đầu năm và cuối năm
  5. Thời điểm huy động vốn: Mô hình minh họa giả định vốn được huy động vào đầu năm và các khoản thanh toán được thực hiện vào cuối năm. Cần điều chỉnh nếu thực tế khác với giả định

FUNDING.jpg

Cuối cùng, dựa trên những thông số tính toán, ta xây dựng các bảng báo cáo tài chính, bao gồm bảng cân đối kế toán, bảng kết quả hoạt động kinh doanh và bảng lưu chuyển tiền tệ. Ba bảng này thường có tính liên kết về số liệu và việc hiệu chỉnh sao cho chúng tương thích, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc kế toán là rất quan trọng.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

CASHFLOW.jpg

Bảng cân đối kế toán

BALANCE.jpg

Báo cáo kết quả kinh doanh

INCOME.jpg

Từ kế hoạch tài chính đã xây dựng, người thiết lập có thể tính tóan nhiều thông số rất có ý nghĩa, chẳng hạn như điểm hòa vốn, NPV, IRR, các hệ số tài chính trong phân tích cơ bản, sử dụng thông số để định giá doanh nghiệp, tính giá cổ phiếu,…

Các dạng mẫu khác sẽ được cung cấp ở phần tiện ích để các Saganors cùng tham khảo.


7 công cụ giúp quản lý tốt hơn các mạng xã hội

10.01.2011

Theo quản trị mạng

7 công cụ giúp quản lý tốt hơn các mạng xã hội <span><img src='../../templates/standard/img/icon_premium-widget.gif' _fcksavedurl='../../templates/standard/img/icon_premium-widget.gif' /></span>Khi bạn trở thành thành viên của một vài trang mạng xã hội – chẳng hạn như Facebook, LinkedIn, Twitter – việc bắt kịp với chúng có thể là một việc khá vất vả. Tweet cái này, nâng cấp trạng thái kia hay chia sẻ liên kết ở đây. Nếu bạn quyết tâm làm cho các trang mạng xã hội của mình có tổ chức hơn, hãy tham khảo 7 công cụ mà chúng tôi giới thiệu trong bài này.

 

1. 8Hands

Ứng dụng desktop cho phép sắp xếp các profile trên các trang mạng xã hội mà bạn tham gia (chẳng hạn như Facebook, WordPress, Flickr, Twitter và YouTube) vào một địa điểm. Nó sẽ gửi cho bạn các thông báo khi bạn nhận được các bình luận, tin nhắn, yêu cầu kết bạn hoặc video mới; tạo tóm tắt và các thống kê về các hành động trên mạng xã hội của bạn; đặc biệt là một cửa sổ chat, ở đây bạn có thể kéo và thả các đoạn video YouTube hoặc các bức ảnh trên Flickr để chia sẻ với những người khác.

2. Atomkeep

Dịch vụ này cho phép bạn có thể import, đồng bộ và hợp nhất dữ liệu profile của mình từ các site mạng xã hội như LinkedIn, Facebook, Twitter, Yelp, Digg và Plurk. Nó cũng làm cho việc nâng cấp các mẩu tin – chẳng hạn như địa chỉ email – trong các nền tảng mạng xã hội này một cách khá dễ dàng: Nâng cấp trường nào đó trong Atomkeep profile (thay vì phải ghé thăm mỗi site một cách lẻ tẻ) và đẩy nó đến tất cả hoặc chọn các site.

3. FriendBinder

FriendBinder sẽ hợp nhất danh sách các bạn bè hiện có của bạn từ các mạng khác nhau và hiển thị họ vào một luồng thông tin chung. Nó sẽ sắp xếp các tin nhắn trực tiếp và các đề cập Twitter của bạn, hiển thị thời điểm khi ai đó favorite một bức ảnh của bạn trên Flickr hoặc mời bạn tham dự một sự kiện nào đó trên Facebook. FriendBinder cũng hiển thị các chủ đề theo hướng và các đoạn hội thoại Twitter, khiến chúng trở nên dễ hiểu hơn.

4. FriendFeed

Công cụ này sẽ hiển thị một feed thời gian thực và cá nhân hóa những gì mà bạn bè của bạn đang chia sẻ trên các mạng xã hội khác nhau. Bạn có thể comment hoặc “like” các mục xuất hiện trong feed của mình, có các cuộc đàm thoại thời gian thực với bạn của mình về các post. Bạn cũng có thể chọn từ một danh sách khoảng 50 trang mà bạn có thể đã đăng ký thành viên và chia sẻ các mục với bạn bè của mình.

5. Ping.fm

Về cơ bản, một site sẽ cho phép bạn nâng cấp nhiều trạng thái một cách đồng thời, Ping.fm sẽ nhóm các dịch vụ vào ba hạng mục – nâng cấp trạng thái, blog và microblog. Bạn có thể cấu hình tài khoản để tập hợp nội dung từ một vài dịch vụ, chẳng hạn như Delicious, Facebook, Laconica, LinkedIn, Twitter và WordPress.

6. Pond

Công cụ tập hợp và xuất bản Pond cho phép bạn theo kịp bạn bè, chọn lọc các thông tin về họ và chia sẻ nội dung. Pond cũng cho phép bạn hợp nhất các nhận dạng trực tuyến của bạn bè – chẳng hạn như nếu ai đó (trong số bạn bè của bạn) là một thành viên trên Twitter, Facebook và Flickr, thì bạn có thể thấy các nâng cấp từ các dịch vụ này theo một dòng thời gian tích hợp. Pond cũng cho phép bạn xuất bản các thông tin đến nhiều site bằng một nâng cấp.

7. Shareaholic

Shareholic là một add-on trình duyệt có khả năng tùy chỉnh, cho phép bạn chia sẻ nội dung với khoảng 60 mạng xã hội khác. Bằng cách kích vào biểu tượng Shareaholic, bạn có thể chia sẻ tức thời trang mà bạn đang truy cập (nó sẽ rút ngắn liên kết cho bạn một cách tự động). Thêm vào đó Shareaholic cũng hiển thị các chủ đề theo hướng thời gian thực, cho phép bạn tìm tin tức, video và blog mới nhất.


CIO trong môi trường di động

10.01.2011
Theo CIO.com
CIO trong môi trường di động <span><img src='../../templates/standard/img/icon_premium-widget.gif' /></span>

Nhiều công ty đã cho phép một số nhân viên có thể làm việc tại bất cứ nơi nào họ muốn, miễn sao công việc hoàn thành đúng thời hạn và đạt hiệu quả cao nhất. Trong môi trường di động này, các giám đốc công nghệ thông tin (CIO) đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới.

 

Khi công nghệ di động ngày càng phát triển, người ta ngày càng có thể làm việc linh hoạt ở mọi nơi. Khái niệm “môi trường làm việc di động” (mobile work) đã được định hình. Làm sao để tối ưu hóa hiệu quả công việc trong môi trường di động đó, đặc biệt đối với các CIO? Chris Clark, Giám đốc điều hành của Fiberlink, đã đúc kết và chia sẻ những điều nghiên cứu và kinh nghiệm của mình trong bài viết “Môi trường làm việc di động là một hình thái mới”, đăng trên tạp chí CIO.

“Hình thái mới” là gì?

Mỗi nhân sự đều phải làm việc theo những chuẩn mực nhất định và không có bất cứ sự loại trừ nào. Đó chính là hình thái mới của môi trường làm việc di động.

Phần đông các kỹ sư công nghệ thông tin (CNTT) vẫn tuân thủ quy tắc giải quyết công việc tại văn phòng, nơi mà họ phân quyền, quản lý và hầu như bắt buộc tất cả nhân viên của công ty đều phải làm việc trên mạng nội bộ (LAN) và những người làm việc ở những nơi khác được xem là những thành phần bên ngoài. Hình thức này thực sự đã lỗi thời.

Theo kết quả nghiên cứu, các trưởng phòng CNTT cho biết có từ 30% đến 50% nhân viên trong hầu hết các công ty làm việc bên ngoài văn phòng ít nhất một lần trong tuần. Đó là các nhân viên thuộc các bộ phận quản lý cấp cao, kinh doanh, tư vấn và các kỹ sư CNTT thường hay làm việc ở nhà vào các buổi tối và ngày cuối tuần. Quan điểm cũ cho rằng bộ phận CNTT cần phải quản lý các thiết bị văn phòng và các nhân viên sử dụng chúng đều phải rời khỏi văn phòng trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 21 giờ. Giờ đây, một hình thức quản lý CNTT linh hoạt hơn đang là một yêu cầu thực tiễn mà các CIO phải tham khảo và thực hiện.

Trên thực tế, các công ty nên quản lý công việc của nhân viên bằng việc giao chỉ tiêu nhất định. Thứ nhất, điều này giúp bảo đảm cũng như giúp nhân viên hoàn thành công việc có hiệu quả và đúng tiến độ. Thứ hai, giảm thiểu những công việc bàn giấy chán ngấy luôn gây áp lực cho nhân viên để họ tập trung nhiều hơn cho những công việc đòi hỏi tính sáng tạo và chính xác. Vì thế, các công ty nên thiết kế quy trình quản lý phù hợp đối với những nhân viên không làm việc tại văn phòng, cũng như tạo ra những công cụ hỗ trợ phù hợp để áp dụng đối với toàn thể nhân sự của công ty.

Thách thức nào đối với CIO?

Rất dễ nhận ra rằng các CIO không dễ quản lý nhân viên khi họ không thấy tận mắt nhân viên của mình đang làm việc. Cho nên, việc quản lý nhân viên làm việc di động sao cho có hiệu quả là một trong những vấn đề gây đau đầu cho các CIO, đặc biệt là việc quản lý tài sản công và các dữ liệu của công ty. Có nên cấm nhân viên làm việc tại nhà hay ở đâu đó? Ngày nay, khi vấn đề nhân viên thích làm việc linh hoạt đã trở thành một xu hướng, các CIO cần phải cân nhắc kỹ càng để không phải ngăn một số nhân viên làm việc di động nữa.

Tuy nhiên, khi càng có nhiều nhân viên làm việc như thế, công ty sẽ có thể gặp khó khăn trong vấn đề quản lý và chi phí có thể gia tăng. Sẽ rất khó để quản lý chi phí và hỗ trợ nhau trong công việc cũng như bảo đảm an ninh. Vì vậy, các CIO nên tập trung vào các vấn đề cốt lõi sau, nếu như công ty chấp nhận cho nhân viên làm việc tại nhà hay ở bất kỳ nơi nào đó.

* An ninh. Khi nhân viên không làm việc tại văn phòng công ty, một số biểu mẫu họ mang theo để làm việc có thể bị mất mát vì việc kết nối các thiết bị cầm tay, lúc đó, không còn nằm trong quyền quản trị hệ thống của bộ phận CNTT nữa. Họ cũng có thể không kết nối vào hệ thống, mặc dù họ đang kết nối qua cổng Internet của công ty. Khi một thiết bị di động kết nối vào Internet của công ty qua VPN, CIO cũng không tài nào phát hiện được điểm đầu cuối. Điều này rất nguy hiểm cho hệ thống mạng của công ty, khi virus và các phần mềm nguy hại tấn công có thể làm tê liệt phần mềm “bảo mật” của công ty bất cứ lúc nào. Do vậy, các kỹ sư CNTT cần phải thường xuyên quản lý các phần mềm “bảo mật” như tường lửa, diệt virus, mã hóa dữ liệu, thiết lập hệ thống camera “bảo mật” nhằm gia tăng mức độ quét và lọc các cuộc xâm nhập trái phép từ các thiết bị đầu cuối.

* Đồng nhất. Để tương thích với các quy định của Chính phủ và nội bộ ngành, các kỹ sư CNTT phải chịu nhiều áp lực trước yêu cầu phải có những tiêu chuẩn kỹ thuật cao và xuyên suốt. Một vài tiêu chuẩn phải bảo đảm được tính an toàn đặc biệt như tường lửa, chống virus và đồng bộ hóa dữ liệu; trong khi những yêu cầu này rất khó để thiết lập trên các hệ thống di động. Hơn nữa, khi các kiểm toán viên yêu cầu có những chứng từ liên quan đến việc thực hiện chế độ bảo mật, việc tập hợp thông tin từ các thiết bị di động luôn gây mất thời gian.

* Chi phí. Khi công ty có nhân viên làm việc di động, chi phí thường gia tăng nhiều ở hai mảng gồm hỗ trợ nhân viên và quản lý hiện trạng.

Việc quản lý các máy tính xách tay, các thiết bị cầm tay và các máy tính khác tại những khu vực nào đó luôn là bài toán chi phí hóc búa cho các CIO, không chỉ trong việc gia tăng nhân sự phụ trách công việc này mà còn là vấn đề phân quyền thích hợp. Những nhân sự này phải làm việc hàng giờ để quản lý hệ thống, từ việc áp dụng chế độ bảo mật, nâng cấp phần mềm, xác định các tập tin chứa virus và các phần mềm phá hoại, cho đến theo dõi vấn đề, xử lý dữ liệu và nâng cấp hệ thống. Họ càng mất nhiều thời gian hơn với các thiết bị di động. Và như thế, công ty phải tăng lương bổng cũng như chi phí quản lý.

Chỉ có công nghệ thay thế thì chưa đủ. Trong nhiều trường hợp, việc chuẩn hóa các máy tính để bàn và các máy tính nội mạng có thể giúp định ra những thách thức mà hệ thống di động mang lại, đặc biệt đối với một vài ứng dụng đa dạng để xác định những kết nối vi phạm thường thấy. Tuy nhiên, nhiều nhân viên làm việc di động – có thể là nhân viên kinh doanh, nhân viên tư vấn hay kỹ sư, nhân viên CNTT – thường không am tường các công nghệ này; có thể vì họ thường chỉ chuyển tải các văn bản, các hình ảnh hay các tập tin thiết kế hoặc vì họ làm việc trong những môi trường mà công nghệ này chưa được ứng dụng trước đó.

Chất lượng của mạng nội bộ (LAN). Những thách thức từ “hình thái mới” có thể được tổng hợp khi có nhu cầu tất yếu là phải tu chỉnh các đặc tính và chất lượng của mạng LAN trong môi trường làm việc có nhiều thiết bị di động, mạng không dây và Internet được hỗ trợ bởi điện toán đám mây. Nói cách khác, các nhân viên giờ đây hy vọng sử dụng được đầy đủ tính năng và mức độ an toàn cao từ mạng LAN, dù cho họ có đang ở trong quán cà phê hay đang ở nhà. Tuy nhiên, công ty sẽ không thiết lập cấu hình cho họ bởi chính họ không biết được điều gì sẽ xảy ra với các thiết bị di động của mình. Vì vậy, yêu cầu cần hiển thị đồng bộ đối với “hình thái mới” này sẽ là tất yếu.

Minh bạch trong môi trường di động

Tại sao phải có tính minh bạch? Đơn giản vì khi đặc tính này được gia tăng, các CIO sẽ không phải nặng đầu với các thách thức mà môi trường làm việc di động mang lại. Khi tính minh bạch được tăng lên, công ty chắc chắn sẽ có những quyết định tốt hơn trong việc quản lý kinh doanh của mình.

Đối với vấn đề bảo mật. Nếu bạn phát hiện được những cuộc xâm nhập nguy hiểm đối với hệ thống, bạn sẽ dễ dàng triệt tiêu chúng trong khi các ứng dụng như tường lửa, chống virus và đồng bộ hóa dữ liệu vẫn đang vận hành. Nói cách khác, bạn hoàn toàn có thể ngắt kết nối đối với thiết bị di động của nhân viên nào đang có nguy cơ phá hoại hệ thống.

Đối với chi phí. Nếu xác định được thiết bị của nhân viên nào ít sử dụng, bạn có thể cắt chi phí đó và bổ sung cho nhân viên khác. Việc thực hiện chỉ đơn giản là rút lại bản quyền phần mềm.

Đối với kết nối Internet. Nếu bạn thấy khi nào và bằng cách nào đó, nhân viên đang kết nối Internet, bạn có thể tư vấn cho họ cách kết nối an toàn và hiệu quả nhất.

Quyết định tốt hơn cho công ty. Hiện nay, hầu hết CIO vẫn đang loay hoay với việc cân đối tính hiệu quả và tính trách nhiệm khi quản lý CNTT cho công ty. Với chuẩn hiển thị ứng dụng vào các phần mềm và các ứng dụng trên các thiết bị đầu cuối, kể cả CIO và trưởng phòng CNTT đều có thể xác định nhân viên, hệ thống hay hoạt động nào có nguy hại đến hệ thống cũng như hiểu rõ hệ thống nào đang được bảo vệ tuyệt đối và an toàn.

Khi các trưởng phòng tự tin về những dữ liệu này, họ hoàn toàn có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhất để nâng cao hiệu quả công việc và cắt giảm chi phí khi cảm thấy hệ thống đang an toàn. Họ cũng có thể quyết định về việc bảo mật thông tin cũng như hệ thống nào cần được vận hành trước.

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều công ty cho phép nhân viên làm việc linh hoạt tùy theo nhiệm vụ công việc của từng người. Xu hướng này ngày càng phổ biến, các CIO Việt Nam sẽ giải bài toán này ra sao? Câu trả lời vẫn còn đang mở.


%d bloggers like this: